Hình ảnh nói lên: Sự kiện Tội Ác Việt Cộng ! ! !






https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEj6kLmYKa-hPj1HvFQ9_a90KHJhUV_iUMIMpX4OuUtcp6iY8tidLohE38X7ObP2c42O5V9-qDdwu0FmyTgJjcSZI_uM_-UibAiDC_1ucag_fkHs2pV3BymecImeC0W5_uks9TF3NPCej5k/s1600/babui-danlambao-%C4%90a%CC%82%CC%81t+nu%CC%9Bo%CC%9B%CC%81c+la%CC%80+ca%CC%81i+%C4%91uo%CC%82i+sam1.jpg








Sunday, September 1, 2013

Khi tư bản tài chính rút chạy


 


Khi tư bản tài chính rút chạy


 

Vũ Hoàng & Nguyễn Xuân Nghĩa, RFA
2013-08-28



08282013-ddkt-nxn.mp3Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

000_Par7619796-305.jpg

Bộ trưởng Tài chính Nga Anton Siluanov đi ngang qua những lá cờ của các nước tham dự Hội nghị các bộ trưởng G20 tại Moscow vào ngày 20/7/2013

AFP photo

 

Năm năm trước, khi Hoa Kỳ và Âu Châu bị khủng hoảng tài chính, toàn cầu bị Tổng suy trầm, các biện pháp cấp cứu khiến lãi suất và đồng tiền Âu Mỹ mất giá. Khi ấy, dòng tư bản chảy về nơi có lợi hơn, đó là các nước đang phát triển. Ngày nay, tình hình lại đảo ngược khi kinh tế các nước đang phát triển đều có dấu hiệu suy giảm và khối công nghiệp hóa Âu-Mỹ-Nhật lại hồi phục khiến tư bản tài chính rút khỏi các thị trường đang lên và gây ra nhiều chấn động quốc tế. Chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa sẽ phân tích hậu quả của sự chuyển động ngược này trong chương trình chuyên đề của Diễn đàn Kinh tế.

Mỹ đổi hướng đầu tư ...

Vũ Hoàng: Xin kính chào ông Nghĩa. Thưa ông, cuối Tháng Bảy vừa qua, tiết mục chuyên đề của chúng ta đã giải thích vì sao mà các nền kinh tế "đang lên" sẽ lại xuống. Kỳ này, vào cuối Tháng Tám, ta sẽ tìm hiểu tiếp về hậu quả gần xa của sự đảo chiều này vì cùng lúc đó, dấu hiệu phục hồi tại Hoa Kỳ khiến ngân hàng trung ương Mỹ nêu ý kiến là sẽ giảm dần mức độ bơm tiền kích thích kinh tế làm lãi suất dài hạn và phân lời trái phiếu tại Mỹ tăng vọt. Chủ trương đó của Hoa Kỳ làm nhiều đồng bạc trên thế giới mất giá và còn gây bối rối cho lãnh đạo Trung Quốc qua một chi tiết nhỏ mà có thể phản ảnh một sự lúng túng rất lớn. Đó là hôm Thứ Ba 27, lãnh đạo tài chính và ngân hàng Bắc Kinh yêu cầu ngân hàng trung ương Mỹ xem xét kỹ thời điểm và cường độ thu hút lại lượng tiền bơm vào kinh tế để khỏi gây thiệt hại cho các nền kinh tế đang phát triển. Nói cách khác, vì sao một quyết định của Mỹ lại làm Bắc Kinh giật mình như vậy?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: Thưa rằng nhìn trong toàn cảnh của một địa cầu hình tròn và luồng giao dịch liên tục của hàng hóa và tư bản giữa các nước thì những xoay chuyển hay thăng giáng trị giá tài sản là điều thường xuyên và tất nhiên. Vì thế, khi thấy có lợi trong nhất thời vì tài sản của xứ khác trút vào thị trường của mình để kiếm lời thì cũng nên chuẩn bị cái ngày mà dòng tài sản ấy sẽ chảy đi nơi khác và để lại nhiều hậu quả bất lợi. Đó là một nguyên tắc chung.

Về phản ứng của Bắc Kinh, thì Thứ trưởng Tài chính Chu Quang Diệu và Phó Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Dịch Cương của Trung Quốc đã sợ nạn rút vốn về Mỹ sau khi Ngân hàng Trung ương Hoa Kỳ nói đến việc "vuốt nhọn" chính sách tiền tệ, là giảm dần và có thể hút lại lượng tiền đã bơm ra. Khi kinh tế Mỹ hồi phục và có nền móng vững chắc hơn, việc điều chỉnh chính sách tiền tệ tại Hoa Kỳ quả nhiên là gây hậu quả toàn cầu nên mới làm Trung Quốc và nhiều xứ khác hốt hoảng. Qua câu chuyện này, ta thấy ra vài điều đáng chú ý và chẳng nên quên.

Khi kinh tế Mỹ hồi phục và có nền móng vững chắc hơn, việc điều chỉnh chính sách tiền tệ tại Hoa Kỳ quả nhiên là gây hậu quả toàn cầu nên mới làm Trung Quốc và nhiều xứ khác hốt hoảng.
- Nguyễn-Xuân Nghĩa

Vũ Hoàng: Thưa ông, những điều ấy là gì?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: Trong nhiều năm liền, khi khối công nghiệp hóa bị suy trầm và bơm tiền kích thích làm đồng bạc mất giá, các nước kết án là họ gây chiến tranh ngoại hối và cạnh tranh nhờ tiền rẻ làm hàng hóa dễ bán hơn. Khi kinh tế đã khá hơn và Hoa Kỳ cần điều chỉnh thì lại bị phê phán là làm đồng tiền xứ khác mất giá và được yêu cầu là phải suy xét thận trọng. Đâm ra, ngược với quan điểm của nhiều người trong năm năm liền, Hoa Kỳ vẫn là siêu cường kinh tế chứ không hề lụn bại để Trung Quốc sẽ qua mặt trong dăm ba năm. Điều phũ phàng ấy có nghĩa là thủ đô Washington, chứ không phải Bắc Kinh hay một nơi nào khác, vẫn là trung tâm mà các quyết định về tài chính và ngân hàng tất nhiên gây hậu quả cả tốt lẫn xấu cho xứ khác.

Vũ Hoàng: Nói về hậu quả, chúng ta có thể liên tưởng đến một tiền lệ vào năm 1997, khi luồng tư bản như thủy triều rút khỏi Đông Á khiến nhiều quốc gia bị khủng hoảng. Thưa ông, có thể nào mà lần này chúng ta lại thấy tái diễn chuyện ấy không?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: Tôi nghĩ tương lai không nhất thiết là lịch sử tái diễn, nhưng trào lưu thăng giáng kinh tế thì vẫn vận hành theo một quy luật chung và cho ta nhiều bài học có ý nghĩa. Chúng ta hãy nhắc lại chuyện đó, so sánh với chuyện nay, may ra thì thấy được vài bài học. Thứ nhất, vụ khủng hoảng 1997 xuất phát từ sự hồ hởi sảng của nhiều nước Á Châu.

Khi ấy, cả thế giới nói đến phép lạ kinh tế của tám nước gọi là "tân hưng" của Đông Á. Năm tháng trước khi khủng hoảng bùng nổ, vào đầu năm 1997, báo chí, các định chế tài chính hay học giả quốc tế còn ngợi ca các nước này. Số là sau khi Liên Xô tan rã và Chiến tranh lạnh kết thúc năm 1991, luồng tư bản tài chính thật sự được giải phóng đã lưu thông tự do hơn. Sự lạc quan chung đi cùng nỗ lực chuyển theo quy luật thị trường của Trung Quốc rồi Ấn Độ, khiến các nước Đông Á đi trước đã có một lượng tư bản dồi dào để đạt mức tăng trưởng cao.

Khi ấy rồi, người ta đánh giá sai ảnh hưởng của Hoa Kỳ khi Ngân hàng Trung ương Mỹ bắt đầu nâng lãi suất từ năm 1994. Trong một năm, lãi suất Mỹ đã tăng gấp đôi khiến Mỹ kim lên giá mạnh từ năm 1995. Nhiều quốc gia đã giàng giá đồng bạc vào tiền Mỹ như một cái neo thì bị đứt neo và phải phá giá để tự cứu nguy. Vụ khủng hoảng 1997 mở ra từ đó.

... xứ khác bị ảnh hưởng

035_pau688187_01-250.jpg

Một nhà đầu tư Trung Quốc nhìn vào giá cổ phiếu (màu đỏ cho giá tăng và màu xanh lá cây cho giá giảm) tại một nhà môi giới chứng khoán tại Thiên Tân, Trung Quốc hôm 09/8/2012. AFP photo

Vũ Hoàng: Ông nhắc lại chuyện cũ nên thính giả của chúng ta có thể rút tỉa được bài học cho chuyện mới. Đó là khi kinh tế phát đạt nhờ tư bản xứ khác trút vào xứ mình, các nước tân hưng Đông Á nghĩ là họ tạo ra phép lạ vì lãnh đạo của họ cả tin vào sự tường thuật của báo chí. Cũng vậy, năm 2008, vì lãi suất quá thấp tại Hoa Kỳ, tư bản Âu Mỹ mới trút vào các nước tân hưng để kiếm lời cao hơn, dư luận liền ngợi ca các nền kinh tế đang lên, điển hình là nhóm BRIC của bốn nước Brazil, Nga, Ấn Độ và Trung Quốc, và nói đến ngày tàn của khối công nghiệp hoá. Kết cuộc thì các nền kinh tế gọi là "đang lên" đã lại xuống và bây giờ thì họ sợ lãi suất sẽ tăng tại Hoa Kỳ khiến tư bản triệt thoái làm hối suất đồng bạc của nhiều nước đều sụt mạnh. Thưa ông, kết luận cần rút tỉa ở đây là những gì?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: Trong tình trạng đảo chiều này, chúng ta thấy ra vài sự thật.

Thứ nhất, lời phát biểu hay biên bản buổi họp kỳ trước của Ủy ban Tiền tệ và Tín dụng của Ngân hàng Trung ương Hoa Kỳ có thể gây biến động trên các thị trường tài chính toàn cầu. Vì vậy, mình nên theo dõi tin tức và cả những tranh luận rất xa vời về chính sách, ngân sách hay nhân sự tại Mỹ. Thứ hai, khi biến động xảy ra trên thị trường chứng phiếu và ngoại hối, xứ nào mà có sẵn nhược điểm bên trong thì bị tai họa nặng nhất. Nhược điểm ấy là bội chi ngân sách, lạm phát, nhập siêu quá cao nên cán cân thanh toán bị hụt, dự trữ ngoại tệ bị hao mòn, ngân hàng mắc nợ xấu, v.v...

Khi kinh tế thịnh đạt thì lãnh đạo xứ nào cũng nghĩ rằng đấy là công lao thành tích của họ. Tới khi thủy triều của tư bản tài chính lại bắt đầu rút thì hối suất đồng bạc bị sụt, là trường hợp của Ấn Độ, Brazil, Indonesia, Turkey và nhiều xứ khác. Xứ nào có sẵn nhược điểm nội tại, do mình tự gây ra mà không thấy, thì rất khó ứng phó với biến động này. Thí dụ như họ khó phá giá đồng bạc, nâng lãi suất, tăng chi và đắp vốn cho ngân hàng vì biện pháp nào cũng có thể là liều thuốc để bệnh. Nhược điểm nặng nhất là luật lệ mờ ám và lãnh đạo tham ô thì gây hậu quả tai hại nhất, là các đại gia sẽ tẩu tán tài sản để tránh bị thiệt hại bên trong và để kiếm lời ở bên ngoài!

Vũ Hoàng: Thưa ông, so với lần trước thì lần này tình hình có khác gì không?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: So với lần lạc quan hồ hởi 20 năm trước rồi bị khủng hoảng 16 năm trước, tôi nghĩ rằng có nhiều khác biệt cả xấu lẫn tốt.

Lần trước, Đông Á bị khủng hoảng khi giá dầu thô còn ở mức 28 đến 35 đô la một thùng và chi phí năng lượng chưa là gánh nặng quá lớn của cán cân mậu dịch. Lần này, dầu thô đã vượt trăm đồng, chưa kể biến động sắp tới tại Trung Đông, nên các nước phải nhập xăng dầu sẽ bị khốn đốn hơn với cán cân mậu dịch và vãng lai.

Lần trước, Trung Quốc và Việt Nam chỉ bị gián tiếp vì chưa vào Tổ chức Thương mại Thế giới WTO, lần này, họ bị trực tiếp vì buôn bán giao dịch với bên ngoài nhiều hơn.
- Nguyễn-Xuân Nghĩa

Lần trước, Trung Quốc và Việt Nam chỉ bị gián tiếp vì chưa vào Tổ chức Thương mại Thế giới WTO, lần này, họ bị trực tiếp vì buôn bán giao dịch với bên ngoài nhiều hơn. Chưa kể là Trung Quốc đang thoái trào và có quá nhiều nhược điểm bên trong. Nhưng ngược lại, lần này khu vực Đông Á lại có Nhật Bản với khả năng can thiệp khá hơn và có phương tiện tài chính phần nào bù đắp vào phần rút vốn của Hoa Kỳ. Nói chung thì sóng gió mới cũng tạo ra cơ hội mới nếu mình nhìn ra viễn ảnh lâu dài. Và lần này, cơ hội là nhân khi Trung Quốc lao đao và thiên hạ điêu đứng thì nhiều nước có thể vượt lên rất mạnh.

Vũ Hoàng: Chúng ta đi qua viễn ảnh dài của sự chuyển động này. Thưa ông, các nước đang phát triển mà bị điêu đứng như ngày nay thì có thể làm gì để hy vọng vượt lên như ông vừa nói?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: Tôi nghĩ việc đầu tiên là tránh đổ lỗi cho thiên hạ hay cho thị trường!

Lần trước, khi khủng hoảng Đông Á xảy ra năm 1997, một số quốc gia lâm nạn bèn rút tỉa bài học và cố không tái diễn sai lầm đã dẫn tới khủng hoảng. Trong số này có Nam Hàn là xuất sắc hơn cả sau khi mang cái nhục là phải nhờ Quỹ Tiền tệ Quốc tế tung tiền cấp cứu. Nhiều xứ khác có học bài mà lại chóng quên và lạc quan tếu nên ngày nay cũng gặp khó khăn, như Thái Lan, Indonesia hay Malaysia và Phillipines. Nhưng dù sao họ chưa nguy như Brazil, Turkey hay Ấn Độ là một xứ đã cải tổ mà sau lại trì hoãn và bị lạm phát lẫn tham ô lan rộng nên khó thoát hiểm.

Xuất phát từ kinh nghiệm đó, điều thứ hai nên nhớ lần này là các nước tân hưng chưa thể tự túc phát triển mà vẫn tùy vào thị trường Âu-Mỹ nên sẽ bị khá nhiều khó khăn trong năm năm tới. Nhưng đây chính là cơ hội tiến hành cải cách. Trong ngắn hạn là một hai năm thì phải vừa chống đỡ sóng gió bên ngoài, vừa rà soát lại những yếu kém bên trong để cải tổ cơ chế. Khi cải tổ thì đừng quên kỷ luật của chi tiêu và nếu có tiếp nhận đầu tư thì để phát triển qua các dự án có giá trị kinh doanh và kinh tế, chứ không để trám vào thiếu hụt ngoại tệ của mình.

Vũ Hoàng: Từ những bài học đó, thưa ông, chúng ta có thể kết luận những gì?

Nguyễn-Xuân Nghĩa: Để kết luận, tôi nghĩ rằng bài học quan trọng nhất của ngần ấy biến động là kinh tế có thể tăng trưởng nhưng cũng dễ gây ra thất quân bình nên mới phải điều chỉnh. Tiến trình điều chỉnh ấy là hiện tượng bình thường và liên tục. Nếu tư bản ào ạt đổ vào nước ta thì nên nghĩ đến ngày có thể rút, để khi tiếp nhận thì sử dụng một cách tối hảo. Từ "tối hảo" này vẫn được sử dụng trước đây ở trong Nam, hàm nghĩa là đạt tối đa lợi ích với tối thiểu rủi ro hay phí tổn. Chuyện thứ hai là nếu kinh tế sa sút thì điều ấy có nghĩa là lương bổng bị sụt và đồng bạc mất giá, nhưng nếu tích cực khai thác điều bất lợi này như một ưu thế cạnh tranh về sau thì quốc gia lâm nạn phải trước tiên chấn chỉnh lại cơ chế tài chính và sản xuất và chuẩn bị đầu máy cho phục hồi là các doanh nghiệp. Nói chung là khi phải lùi thì đã nghĩ đến bước tiến và nếu bị sức ép thì nên chuẩn bị sức bật cho đúng hướng.

Vũ Hoàng: Xin cảm tạ ông Nghĩa về cuộc phỏng vấn này.

 

 

Người Hà Nội " bì bõm" ngày nghỉ lễ


From: Hien DoVan <
To:
Sent: Sunday, 1 September 2013 5:38 PM
Subject: Người Hà Nội " bì bõm" ngày nghỉ lễ

 

Miền Nam thì nắng nóng


Hiền Gò Công

 

 

Người Hà Nội 'bì bõm' ngày nghỉ lễ


 


Trận mưa lớn kéo dài sáng nay khiến những tuyến phố ở thủ đô như Nguyễn Xiển, Trần Bình, Nguyên Hồng... ngập nặng.

Cơn mưa lớn kèm theo sấm sét và kéo dài vào rạng sáng nay ở Hà Nội khiến nhiều con đường bị ngập nước. Tuyến đường Nguyễn Xiển hoá thành sông, nhưng do là ngày nghỉ lễ, đường vắng nên không xảy ra tình trạng ùn tắc.

 

Nhiều tuyến phố khác như Trần Bình, Nguyên Hồng... và một đoạn thuộc đường Huỳnh Thúc Kháng, Lê Trọng Tấn cũng bị ngập. Tuy nhiên tại những điểm này nước rút nhanh.

 

10h sáng, nước vẫn tràn đến cổng trường tiểu học Mai Dịch.

 

Có đoạn ngập nửa bánh ôtô.

 

Nhiều xe bị chết máy, phải dắt bộ băng qua dòng nước ngập.

 

Xe đạp bì bõm vượt qua con phố ngập tới 40 cm.

 

Người đi bộ phải men sát vỉa hè để tránh khỏi ngập.

NGƯỜI ĐÀN BÀ BỊ XÍCH 2 NĂM TRONG RỪNG KHÔNG MỘT MẢNH VẢI CHE THÂN -XIN HỎI, TỘI ÁC CỦA AI?



 

 

NGƯỜI ĐÀN BÀ BỊ XÍCH 2 NĂM TRONG RỪNG KHÔNG MỘT MẢNH VẢI CHE THÂN -XIN HỎI, TỘI ÁC CỦA AI?



Nguyễn Thu Trâm, 8406
 Kính thưa quý vị,

 

Dẫu đã không ít lần chứng kiến những tội ác của tập đoàn CSVN đối với đồng bào, dẫu đã nhiều lần chứng kiến cảnh công an cộng sản đánh đập hành hung những người dân thấp cổ bé họng, là những dân oan tập trung khiếu kiện vì đất đai ruộng vườn bị trấn cướp, dẫu đã nhiều lần chứng kiến cảnh những “quần chúng tự phát” mà thực chất là các lực lượng an ninh đánh đập những người tham gia biểu tình chống ngoại xâm, và, ngay cả bản thân của tôi nữa cũng đã không ít lần bị bắt bớ, bị giam cầm, bị xâm phạm thân thể, bị đánh đập, tra tấn, bị hành hung dã man vì các hoạt động của tôi trong phong trào dân chủ ở quốc nội, nhưng thực sự tôi chưa bao giờ đã phải rơi nước mắt hay phẫn nộ đến tột cùng như khi theo dõi cuộc giải cứu người phụ nữ bị xiềng xích suốt 2 năm không một mảnh vải che thân, trong rừng thuộc lòng hồ A Jun Hạ, của một số tôi con của Thiên Chúa thuộc Cộng Đoàn Dân Chúa ở Gia Lai, như trong Video sau đây:

 


 

Có thể có một vài người sau khi xem xong Video clip đó, vẫn  dững dưng, vô cảm bởi họ cho rằng đó là chuyện riêng tư của một gia đình, thậm chí chỉ là của một cá nhân thì có gì mà phải lao tâm khổ tứ?

 

 

Không! Đây hoàn toàn không phải chỉ là chuyện riêng của một người đàn bà, một cá nhân hay một gia đình, mà thực ra đây là chuyện của cả một đất nước, của cả một dân tộc!
 
Chắc nhiều người vẫn còn nhớ, Hồ Chí Minh vào năm 1946, tức là chỉ một năm sau khi cướp chính quyền từ chính phủ Quốc Gia của Thủ Tướng Trần Trọng Kim vào ngày 23 tháng 8 năm 1945, một chính phủ của nước Việt Nam độc lập đầu tiên sau gần 100 năm bị Thực dân Pháp đô hộ, và là một chính phủ mà thành phần nội các gồm toàn những học giả, trí thức của hàng đầu của Việt Nam thuở đó, một hứa hẹn cho một nước Việt Nam tiến cường, ấy vậy mà một năm sau khi cướp được chính quyền, ông Hồ, khi trả lời phỏng vấn của các báo chí nược ngoài, ông đã rất x ảo ngôn rằng: “Bao giờ đồng bào cho tôi lui, thì tôi rất vui lòng lui. Tôi chỉ có một sự ham muốn, ham muốn tột bậc, là làm sao cho nước ta được hoàn toàn độc lập, dân ta được hoàn toàn tự do, đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành. Riêng phần tôi thì làm một cái nhà nho nhỏ, nơi có non xanh, nước biếc để câu cá, trồng hoa, sớm chiều làm bạn với các cụ già hái củi, em trẻ chăn trâu, không dính líu gì với vòng danh lợi.”. 
 
Thật là bịp bợm, xảo ngôn hết chổ nói! Từ khi Hồ Chí Minh cướp chính quyền từ tay chính phủ Quốc Gia của Thủ Tướng Trần Trọng Kim đến nay đã 68 năm và từ khi cộng sản Bắc Việt cưỡng chiếm miền Nam của Chính phủ Việt Nam cộng Hòa cũng đã 38 năm rồi, với nhà cầm quyền CSVN thì đất nước như thế là đã “được hoàn toàn độc lập” và dân ta  đã được hoàn toàn tự do” rồi đó, nhưng có thực sự là “đồng bào ai cũng có cơm ăn áo mặc, ai cũng được học hành”? Hay đó chỉ là những đặc quyền đặc lợi của giai cấp thống trị, của những thành phần quan phương khom lưng cúi đầu phục vụ chế độ, và của cường quyền đỏ và của các lãnh chúa ở các địa phương thôi, còn đa phần người dân Việt vẫn ngu tối, vẫn đói rách vẫn lầm than như những hình ảnh mà quý vị thấy qua trong Video clip vừa rồi?

 

 

 

Điều đáng nói nữa là CSVN vẫn nhất nhất tuân hành những di huấn của thánh tổ Karl Mark, mà một trong những tư tưởng điên rồ của tên cộng sản hoang tưởng và bệnh hoạn này là “Tôn giáo là tiếng thở dài của loài người bị áp bức, trái tim của thế giới không trái tim, cũng giống như nó là linh hồn của những trật tự vô hồn. Nó là thuốc phiện của nhân dân”. Thật là cuồng ngôn! Không cần phải xét đến cái đũng cái sai của tư tưởng bệnh hoạn và phát ngôn ngu xuẩn đó của Karl Mark, mà chúng ta thử suy nghĩ xem nếu như ở Việt Nam hiện không có cái “tiếng thở dài của loài người bị áp bức, trái tim của thế giới không trái tim” hay “linh hồn của những trật tự vô hồn” hay “thuốc phiện của nhân dân” thì liệu có ai đó sẽ giải cứu người đàn bà bị xích xiềng suốt hai năm trong rừng, không một mảnh vải che thân đó hay không? Và còn hàng triệu mảnh đời bất hạnh khác nữa, hàng triệu nạn nhân khác nữa của chế độ CSVN, ai đang che chở, vổ về, ủi an và chăm sóc họ?
 
Những ai đã cho người đói ăn, người khát uống, và người trần truồng được mặc? Những ai đã thăm viếng và an ủi những kẻ ốm đau, tù rạc? Là đảng cộng sản hay là “thuốc phiện của nhân dân”? Và với ham muốn cuối cùng của ông Hồ “Riêng phần tôi thì làm một cái nhà nho nhỏ, nơi có non xanh, nước biếc để câu cá, trồng hoa, sớm chiều làm bạn với các cụ già hái củi, em trẻ chăn trâu, không dính líu gì với vòng danh lợi” có thực sự như vậy không hay dù đã chết khô như củi rồi mà hàng ngày vẫn phải tiêu tốn hàng trăm triệu đồng cho chi phí vận hành cái CULTUS nơi đang bảo quản và chưng bày cái xác khô của tên tội đồ dân tộc đó? Trong khi hàng chục triệu người dân Việt vẫn đói rách lầm than, áo chưa đủ lành, cơm chưa đủ no chứ nói chi đến chuyện học hành. Tội ác này thực chất là của ai? Của “thuốc phiện của nhân dân”? Của “các thế lực thù địch là bọn phản động lưu vong ở nước ngoài”? Hay chính là tội ác của Hồ Chí Minh và chế độ cộng sản?

 

Ngày 29 tháng 8 năm 2013

 

Nguyễn Thu Trâm, 8406

 

Blogger VN thách thức chế độ độc đảng


 

Blogger VN thách thức chế độ độc đảng


Cập nhật: 10:25 GMT - thứ tư, 21 tháng 8, 2013



Sau những năm xung đột và khó khăn, Việt Nam dần nổi lên ở châu Á như nền kinh tế công nghiệp hóa mới nhất. Nhưng những thay đổi xã hội và kinh tế hiện tại lại thách thức sự cai trị của nhà nước độc đảng, trong đó có sự phát triển sôi động của không gian blog. Chuyên gia về Việt Nam Jonathan London phân tích phản ứng của nhà nước với các blogger trong trường đấu chính trị đang thay đổi ở Việt Nam.

Hai thập niên trước, cứ 10,000 người Việt Nam mới có chưa đầy một cái điện thoại, một tỉ lệ thuộc hàng thấp nhất thế giới. Ngày nay, ở đất nước 90 triệu dân, cứ mỗi 100 công dân thì lại đếm được tới 135 chiếc điện thoại.

Các bài liên quan



Chủ đề liên quan



Tỷ lệ tiếp cận Internet cũng đã cất cánh. Cứ ba người thì có hơn một người nối mạng so với tỉ lệ một trên 33 của một thập niên trước. Lịch sử rõ ràng đã tăng tốc ở Việt Nam, mang đến cả cơ hội và những rủi ro.

Tác động của internet đối với văn hóa chính trị của Việt Nam trở nên đột ngột và quan trọng. Cho tới gần đây, việc tiếp cận thông tin, tin tức, quan điểm không bị kiểm duyệt về Việt Nam vẫn chỉ giới hạn trong phạm vi quan chức có quyền.

Tình hình đã thay đổi sâu sắc. Có lẽ nổi bật nhất là việc viết blog về chính trị nay trở nên phổ biến ở Việt Nam, bất chấp những nỗ lực của nhà nước muốn nhổ rễ nó.

Hình thức viết blog chính trị ở Việt Nam cũng đa dạng.

Một số blogger có nguyện vọng thành nhà báo độc lập. Người khác lại tập trung vào các vụ scandal và đồn đoán, nhất là nếu chúng liên quan tới các đầu lĩnh chính trị của đất nước.

Những người khác quảng bá cho đối mới chính trị và cảnh ngộ của các tù nhân lương tâm đang dần tiều tụy trong nhà tù Việt Nam. Những người này được vô số blogger trên các trang mạng xã hội khác như Facebook tán thưởng và tham gia.

Khi họ bị bịt miệng, qua việc bắt bớ hay cách nào khác, lại có các blogger khác nhanh chóng thay thế và dồn dập cơn bão chỉ trích trên internet phản đối chiến thuật đàn áp của nhà nước.

Khát khao thay đổi


Lên tiếng về chính trị ở Việt Nam kèm theo nhiều rủi ro.

Trong năm qua, một số blogger đã chịu án tù dài theo luật hà khắc nhằm làm im tiếng các nhà bất đồng chính kiến và gieo sợ hãi trong dân chúng.

Điều kiện tù đày ở Việt Nam có thể khắc nghiệt. Trong tù, hành hạ thể xác và tinh thần – và cả chết sớm – là chuyện thường tình. Bên ngoài, phân biệt đối xử với người thân của họ cũng đã thành lệ.

Mời quý vị đến với Việt Nam của đầu thế kỷ 21, quốc gia chín mọng tiềm năng nhưng đang rạn nứt vì gánh nặng của một hệ thống chính trị không hiệu quả.

Một đất nước khao khát hiện đại nhưng chính nhà nước của nó lại thẳng tay trừng trị những kêu gọi thay đổi căn bản.

Các blogger của Việt Nam chỉ là một phần quan trọng của một chiến dịch chưa từng có, tuy vẫn chỉ tổ chức lỏng lẻo. Nó nhắm tới việc cổ động, thậm chí thuyết phục chính quyền độc đảng của Việt Nam thực hiện đổi mới chính trị một cách căn bản.

Bị miệt thị là “kẻ thù” và “thế lực thù địch” bởi những yếu tố bảo thủ trong chế độ, thường xuyên bị đe dọa, họ kiên quyết muốn thấy đất nước mình phát triển những thể chế xã hội càng đa nguyên, minh bạch và dân chủ.

Không còn giấu giếm



Chủ tịch Trương Tấn Sang gặp Tổng thống Obama ở Nhà Trắng hồi tháng Bảy

Trong quá khứ, blogger của Việt Nam giấu mình dưới những cái tên giả trên mạng để tránh bị bắt và để bước một bước trước chính quyền.

Nhưng ngày càng có nhiều người Việt Nam lên mạng công khai để được lắng nghe. Họ vẫn tiến hành cẩn trọng nhưng với sự tự tin và quyết tâm.

Thực vậy, trong một thời gian ngắn, bất đồng chính kiến một cách công khai đã trở thành một đặc tính chắc chắn của xã hội Việt Nam. Văn hóa chính trị của đất nước này đã thay đổi trên những khía cạnh cơ bản.

Và công khai kêu gọi đổi mới cũng không chỉ dừng ở giới trẻ thạo công nghệ.

Đầu năm nay, 72 viên chức và nhà phân tích, còn làm việc và đã về hưu, công khai kêu gọi kết thúc chế độ độc đảng ở Việt Nam. Kiến nghị 72 là bước bạo dạn và tới nay đã có được 14.000 chữ ký, rất nhiều người trong số đó vẫn nằm trong bộ máy của đảng – nhà nước.

Mặc dù bị nhà nước bác bỏ, bản kiến nghị vẫn tự do lưu truyền trên mạng. Cuộc bàn luận công khai trên mạng đã là một bước ngoặt không tranh cãi được trong sự phát triển chính trị của đất nước.

Thế nhưng, những sự kiện trên không thể xảy ra nếu đã không có các thay đổi quan trọng trong chế độ.

Thực vậy, chính trị bên trong Đảng Cộng sản thường rất ảm đạm, thậm chí chán nản, nhưng đã trở thành thú vị, Nó thể hiện một mức độ bất trắc chưa từng thấy kể từ những năm 1940.

Chính trị bè phái mà đã kiềm giữ được trong quá khứ nay đã nhường chỗ cho một cuộc đấu tranh công khai, phản ánh cuộc khủng hoảng lãnh đạo.

Kinh tế trì trệ


Bản thân cuộc khủng hoảng này là sản phẩm của nhận thức rằng các nhóm lợi ích và sự kém cỏi trong đảng làm xói mòn tương lai của đất nước. Để hiểu được cuộc khủng hoảng này, người ta chỉ cần nhìn vào kinh tế.

Trong nhiều thập niên, Việt Nam là quốc gia nghèo nhất châu Á. Chiến tranh và cấm vận của Mỹ và Trung Quốc khiến đất nước này nhìn chung bị cô lập khỏi thương mại thế giới.

"Rõ ràng là có nhiều người sáng láng, có trình độ và quyết tâm trong và ngoài đảng và nhà nước đang đấu tranh vì lợi ích của một trật tự xã hội mới công khai và minh bạch hơn."

Thế nhưng đổi mới thị trường cuối thập niên 1980 và đầu những năm 1990 làm bùng nổ tăng trưởng kinh tế. Lao động ở Việt Nam vẫn tương đối rẻ, cộng với việc gần với Trung Quốc và các thị trường Đông Á khác, và mối quan hệ ngày càng phát triển với châu Âu và châu Mỹ khiến đất nước này trở thành nam châm thu hút đầu tư nước ngoài.

Trong giai đoạn này, Việt Nam đã cải thiện mức sống một cách đáng kể, dù không đồng đều.

Tuy nhiên trong 5 năm qua, quỹ đạo tăng trưởng của Việt Nam đã dần chậm lại do quản lý kinh tế sai lầm. Sai lầm quản lý là do các nhóm lợi ích mà sản phẩm chính của nó là trác táng và lãng phí.

Trong khi kinh tế Việt Nam vẫn phát triển và sẽ tiếp tục phát triển ở tỉ lệ vừa phải, năng suất của nó khá yếu ớt. Những đổi mới được đề xướng từ thập niên 90 đã mất đi đà tiến.

Nhà nước thất bại trong việc giải quyết các vấn đề cơ bản một cách đầy đủ, chẳng hạn như bế tắc trong cơ sở hạ tầng, nhu cầu về lực lượng lao động có kỹ năng và minh bạch trong quản lý và điều tiết kinh tế.

Trong khi đó, quyền lực của nhà nước quá thường xuyên được những người đứng đầu sử dụng cho chính họ và đồng minh của họ. Đất nước trở nên bức bối.

Kiềm chế blog


Cho tới gần đây, câu trả lời thường lệ của chính quyền đối với các kêu gọi đổi mới là trấn áp. Điều này đã làm vấy tên tuổi của Việt Nam và làm yếu đi những nỗ lực tăng cường quan hệ với những quốc gia như Hoa Kỳ.

Không có dấu hiệu cho thấy các vụ đàn áp đang giảm đi. Nhưng nỗ lực công khai thuyết phục đổi mới cũng không giảm.

Nhưng liệu tình hình có đang đến lúc dầu sôi lửa bỏng?

Trong những tháng gần đây, chính quyền đã sử dụng Điều 258 bộ luật Hình sự Việt Nam, quy định nhiều năm giam giữ đối với tội danh “lợi dụng các quyền tự do dân chủ” và xâm phạm “lợi ích nhà nước”.

Tháng trước, cảm thấy có cơ hội chính trị từ cuộc gặp giữa Chủ tịch Việt Nam Trương Tấn Sang và Tổng thống Hoa Kỳ Barack Obama, 103 blogger đã viết kiến nghị phản đối điều 258.

Chỉ vài ngày sau cuộc gặp, chính quyền Việt Nam ra Nghị định 72, sẽ có hiệu lực vào ngày 01/09.

Nghị định này có vẻ giới hạn chặt chẽ việc viết blog chính trị bằng cách cấm người dùng internet không được nhắc tới các “thông tin tổng hợp,” trích lại “thông tin từ các hãng thông tấn nhà nước hoặc các trang web,” hay “cung cấp thông tin chống Việt Nam; gây phương hại đến an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội; phá hoại khối đại đoàn kết dân tộc".

Nhưng mục tiêu chính xác mà nghị định nhắm tới và khả năng thi hành của nó vẫn không rõ ràng.

Tình hình khó đoán



Nhu cầu đọc tin qua internet ngày càng tăng

Chỉ vài tuần trước, một nhà hoạt động dũng cảm người Việt Nam kể lại cách cô trốn khỏi nhà từ 4:30 sáng để tránh bị công an giữ, để tham gia chiến dịch ủng hộ quyền chính trị.

Trong khi đó, hôm 13/08/2013, một nhóm nhỏ thanh niên Hà Nội, những người khá năng nổ về chính trị trên mạng, bị đàn áp bạo lực, điện thoại và máy tính xách tay của họ cũng bị tịch thu.

Cũng trong tuần đó, một nhân vật khá nổi trội của đảng Cộng sản thúc giục đồng đội trước kia của mình ra khỏi Đảng để cùng tham gia đảng Dân chủ - Xã hội mới chưa được thành lập.

Cuối tuần đó, trong một quyết định bất ngờ và kịch tính, nhà nước trên thực tế đã bỏ án tù nhiều năm đối với hai nhà hoạt động trẻ. Một người 21 tuổi, Phương Uyên, thậm chí còn được thả cho rời tòa, sau khi đã phê phán tòa án.

Những diễn biến như thế không bình thường ở Việt Nam. Nó cho thấy bộ máy nhà nước đang chịu áp lực khổng lồ và một khung cảnh chính trị mới thú vị và khó đoán trước đang đến.

Những thay đổi này nhắc tôi nhớ tới chính trị chống chủ nghĩa thực dân ở Việt Nam gần một thế kỷ trước. Khi đó, những người Việt Nam yêu nước có địa vị khác nhau cùng họp lại để đấu tranh nhiều thập niên cho quyền tự quyết, nhiều tự do hơn và một nền kinh tế công bằng hơn.

Ngày nay, người Việt ở các tầng lớp khác nhau đang cùng đứng dậy cho rất nhiều lý tưởng tương tự. Nhưng họ phải giáp mặt với tầng lớp trên mà tính chính danh đã bị xói mòn vì đấu đá chính trị nội bộ, quản lý kinh tế sai lầm và các nhóm lợi ích.

Chính trị Việt Nam giờ dễ thay đổi. Liệu có xảy ra những thay đổi căn bản hay không thì chưa chắc chắn. Tuy nhiên, rõ ràng là có nhiều người sáng láng, có trình độ và quyết tâm trong và ngoài đảng và nhà nước đang đấu tranh vì lợi ích của một trật tự xã hội mới công khai và minh bạch hơn.

Ở khắp các tầng lớp trong xã hội Việt Nam đang có khát khao thay đổi. Khát khao ấy không bắt nguồn từ các lực lượng thù địch mà từ những người Việt Nam khác nhau yêu đất nước của họ và muốn có tương lai tốt đẹp hơn càng sớm càng tốt.

Tác giả là giáo sư kinh tế chính trị so sánh, đang dạy ở Đại học Thành phố Hong Kong. BấmBản tiếng Anh của bài viết này đã đăng trên BBC News Online, trong một phần của Mùa Việt Nam trên truyền hình và trang web BBC tháng 8. Xem bài gần đây của ông trên BBC Tiếng Việt về 'Bấmcờ vàng'.

__._,_.___

My Blog List