Hình ảnh nói lên: Sự kiện Tội Ác Việt Cộng ! ! !






https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEj6kLmYKa-hPj1HvFQ9_a90KHJhUV_iUMIMpX4OuUtcp6iY8tidLohE38X7ObP2c42O5V9-qDdwu0FmyTgJjcSZI_uM_-UibAiDC_1ucag_fkHs2pV3BymecImeC0W5_uks9TF3NPCej5k/s1600/babui-danlambao-%C4%90a%CC%82%CC%81t+nu%CC%9Bo%CC%9B%CC%81c+la%CC%80+ca%CC%81i+%C4%91uo%CC%82i+sam1.jpg








Showing posts with label Trung Quốc. Show all posts
Showing posts with label Trung Quốc. Show all posts

Thursday, March 26, 2015

Lãi Suất và Đồng Đô La

Lãi Suất và Đồng Đô La

Việt long & Nguyễn Xuân Nghĩa, RFA
2015-03-25
Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ
In trang này
03252015-us-interes-rate-n-volatility.mp3 Phần âm thanhTải xuống âm thanh
Ảnh minh họa
Ảnh minh họa
Files photos
Một mối nguy đang đe dọa Âu Châu và các nền kinh tế nhỏ trên thế giới. Đó là tiền Mỹ lên giá quá mạnh khiến tư bản chảy ngược về Hoa Kỳ. Nếu Ngân hàng Trung ương Mỹ lại tăng lãi suất làm tiền Mỹ càng lên giá thì tình hình còn nguy ngập hơn nữa. Diễn đàn Kinh tế tìm hiểu chuyện ấy qua cuộc phỏng vấn sau đây của Việt Long với chuyên gia kinh tế Nguyễn-Xuân Nghĩa.
Việt Long: Xin kính chào ông Nguyễn-Xuân Nghĩa. Thưa ông, sáu tháng về trước, ông phân tích việc Mỹ kim lên giá so với các ngoại tệ khác và nói rằng việc đó có  thể dẫn đến nhiều biến động cho các nền kinh tế đang phát triển trong năm 2015 này. Quả nhiên là chúng ta thấy ngay một vụ khủng hoảng về ngoại hối vào Tháng 10 năm ngoái khi Liên bang Nga đột ngột tăng lãi suất để vực giá đồng bạc mà tiền Nga vẫn rớt giá. Tuần qua, người ta còn chứng kiến việc tư bản Âu Châu cùng nhiều xứ khác tiếp tục chảy về Mỹ và chiều hướng này sẽ gia tăng khi Ngân hàng Trung ương Hoa Kỳ nâng lãi suất trong mấy tháng tới. Vì vậy, kỳ này, chúng ta tìm hiểu về việc vì sao Hoa Kỳ có thể tăng lãi suất và hậu quả sẽ là những gì cho các nước khác.
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Tôi xin được bắt đầu với chuyện Âu Châu, rồi mình sẽ theo dõi tình hình các nước khác, sau đó mới phân tích chuyện lãi suất tại Hoa Kỳ.
Trước hết, Âu Châu chưa ra khỏi khủng hoảng và hồ sơ Hy Lạp đe dọa sự vẹn toàn của đồng Euro khi xứ này đã cạn tiền mà phải trả nợ theo một lịch trình rất khắt khe từ nay đến cuối năm. Tình trạng đó đã là một mối nguy khiến tiền Âu Châu mất giá so với tiền Mỹ và sẽ còn mất giá nữa.
Chuyện thứ hai là khi các thị trường quốc tế đều theo dõi từng lời phát biểu của Ngân hàng Trung ương Hoa Kỳ để dự đoán về quyết định tăng lãi suất hay không và bao giờ sẽ tăng thì Ngân hàng Trung ương Âu châu vẫn duy trì lãi suất thấp và khởi sự chương trình bơm tiền để kích thích kinh tế. Hai chiều hướng đó khiến giới đầu tư tìm nơi có tiềm năng sinh lời cao hơn và đấy là thị trường Hoa Kỳ. Họ đổi tiền qua đô la để đầu tư vào nước Mỹ.
Âu Châu chưa ra khỏi khủng hoảng và hồ sơ Hy Lạp đe dọa sự vẹn toàn của đồng Euro khi xứ này đã cạn tiền mà phải trả nợ theo một lịch trình rất khắt khe từ nay đến cuối năm. Tình trạng đó đã là một mối nguy khiến tiền Âu Châu mất giá so với tiền Mỹ và sẽ còn mất giá nữa
Nguyễn-Xuân Nghĩa
Việt Long: Thưa ông, Liên hiệp Âu châu có 28 quốc gia và chỉ có 19 nước là sử dụng đồng Euro, còn nhiều xứ khác tương đối vẫn còn vững mạnh. Thế thì vì sao giới đầu tư không rót tiền về các xứ đó mà lại chọn thị trường Mỹ?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Việc tư bản Âu châu ra khỏi khối Euro để dồn vào các nước Âu châu khác đã xảy ra, như khi người ta mua đồng Phật lăng của Thụy Sĩ hay đồng Krone của Đan Mạch. Nhưng hậu quả là lại làm các đồng bạc Âu châu ngoài khối Euro lên giá và gây bất lợi cho việc xuất khẩu nên các xứ này cũng ráo riết cắt lãi suất, bơm thêm tiền, thậm chí còn bắt giới ký thác phải trả thêm tiền thay vì được thưởng khi đem tiết kiệm bỏ vào ngân hàng. Vì thế mà tư bản mới tháo khỏi Âu Châu mà chảy về Mỹ. Ngoài ra, nhiều xứ Trung Đông hay Đông Á cũng tính như vậy và dồn tiền về Mỹ cho an toàn và có lời hơn. Mà điều ấy cũng gây bất lợi cho Hoa Kỳ vì làm cho đồng đô la và Công khố phiếu càng lên giá.
Việt Long: Bây giờ ta mới trở lại chuyện nước Mỹ có thể tăng lãi suất. Sự thể ấy là như thế nào?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Đầu tiên, ta cần phân biệt lãi suất dài hạn và lãi suất ngắn hạn.
Tại Hoa Kỳ, lãi suất dài hạn được thả nổi cho thị trường quyết định theo quy luật cung cầu. Đấy là “phân lời” hay yield của tờ Trái phiếu là tờ giấy nợ. Nó tăng hay giảm là do thị trường. Nếu tiền nhiều và đi vay dễ thì trị giá trái phiếu sẽ tăng mà phân lời lại giảm. Đấy là điều bất lợi cho ai có tiết kiệm vì được trả tiền lời quá thấp. Khi theo dõi tin tức thị trường, ta nên nhớ đến quy luật đó, giả dụ như qua đề tựa của bản tin là “Trái phiếu lên giá” thì có nghĩa là tiền lời giảm. Ngược lại, khi có tin là “Trái phiếu sụt giá”, điều ấy có nghĩa là phân lời tăng.
Việt Long: Thưa ông, đấy là lãi suất dài hạn. Còn lãi suất ngắn hạn thì sao?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Lãi suất ngắn hạn là thuộc thẩm quyền của Ngân hàng Trung ương Mỹ.
Đây là định chế độc lập có quyền quyết định về lãi suất ngắn hạn theo hai yêu cầu là 1) ổn định tiền tệ, là không để lạm phát xảy ra tại Hoa Kỳ và 2) là tạo điều kiện phát triển kinh tế cho dân Mỹ có công ăn việc làm, tức là giảm thiểu nạn thất nghiệp. Định chế này có một ủy ban hữu trách về chính sách tiền tệ và tín dụng, gọi tắt là FOMC, thường thì sáu bảy tuần lại họp một lần, một năm tám lần, để rà soát tình hình kinh tế và quyết định về lãi suất ngắn hạn nếu thấy cần.
Lãi suất ấy được gọi là “federal funds rate”, hay Fed Fund, hay lãi suất liên ngân hàng mà các ngân hàng tính cho nhau khi nhất thời thiếu thanh khoản hay bạc mặt. Từ lãi suất nền đó, các ngân hàng tính thêm nhiều nấc tiền lời cho thân chủ đi vay tùy mức rủi ro. Nếu lãi suất cơ bản này mà thấp thì người ta vay tiền rẻ và dễ hơn nên sẽ nâng mức lưu hoạt kinh tế. Ngược lại, nếu tiền quá rẻ thì dễ gây ra lạm phát nên lãi suất có thể tăng, làm lượng tiền lưu hành trong kinh tế lại giảm.
Tại Hoa Kỳ, lãi suất dài hạn được thả nổi cho thị trường quyết định theo quy luật cung cầu. Đấy là “phân lời” hay yield của tờ Trái phiếu là tờ giấy nợ. Nó tăng hay giảm là do thị trường. Nếu tiền nhiều và đi vay dễ thì trị giá trái phiếu sẽ tăng mà phân lời lại giảm
Nguyễn-Xuân Nghĩa
Việt Long: Thưa ông, khi người ta nói rằng Ngân hàng Trung ương Mỹ bơm tiền hoặc in bạc thì chuyện ấy có nghĩa cụ thể như thế nào?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Khi ta nghe tin Ngân hàng Trung ương bơm tiền hoặc in tiền thì đấy không là việc có ai vào nhà máy in của viện phát hành bấm nút để in ra vài tỷ bạc rồi đưa cho ai đó xài. Việc “phát hành tiền tệ” là do hành động của các ngân hàng và người đi vay để tiêu thụ hay sản xuất. Mỗi nghiệp vụ đi vay hay chi tiêu lại là một quyết định phát hành tiền tệ của thị trường và lãi suất cao thấp là quyết định của Ngân hàng Trung ương để điều tiết lượng tiền hút vào hay bơm ra của thị trường. Lãi suất ấy có thể chỉ nhích vài điểm - một điểm cơ bản là một phần trăm của 1% - là ảnh hưởng đến nhiều tỷ bạc và đến trị giá của đồng đô la. Tức là một cách gián tiếp và trong lâu dài sau nhiều tháng thì lãi suất ngắn hạn ấy cũng chi phối phân lời trái phiếu, là lãi sất dài hạn của thị trường.
Việt Long: Bây giờ ta mới tìm hiểu về yếu tố quyết định của Ngân hàng Trung ương Mỹ. Như ông vừa trình bày thì có phải là định chế này tập trung chú ý vào tình hình vật giá hay thất nghiệp tại Hoa Kỳ chứ chẳng mấy quan tâm đến hậu quả rộng lớn cho các nước khác?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Câu hỏi rất hay vì cho thấy cơ quan chuyên môn này có chức năng phục vụ các mục tiêu viết trên giấy trắng mực đen dưới sự giám sát của Quốc hội. Nội việc đó cũng đã không dễ, mà Ngân hàng Trung ương Mỹ còn hay bị phê phán theo hai hướng. Xu hướng thiên tả thường muốn có lãi suất hạ và tiền nhiều mà chẳng sợ lạm phát. Xu hướng hữu khuynh bảo thủ thì cho là nên canh chừng lạm phát và nâng lãi suất để giới tiết kiệm có lời khi gửi tiền vào ngân hàng cho người khác vay. Cả hai xu hướng này đều không mấy quan tâm đến hiệu ứng cho xứ khác.
Điều ấy cho thấy là nhiều người có thể nghĩ sai khi lý luận rằng Hoa Kỳ có âm mưu tăng lãi suất hay nâng giá đồng bạc để đánh gục kinh tế của một xứ nào khác, thí dụ như Nga hay Tầu!
Việt Long: Ra khỏi lập luận thiên về chính trị như ông vừa giải thích mà chỉ lưu tâm vào quyền lợi của Hoa Kỳ theo hai mục tiêu là ổn định vật giá và giảm thiểu thất nghiệp với hậu quả lâu dài là làm hạ lãi suất dài hạn, thì giới chức Ngân hàng Trung ương Mỹ họp hành tính toán ra sao?
Nhìn vào tình hình vật giá tại Mỹ. Lãi suất có thể tăng khi lạm phát lên gần tới 2%, nhưng các chỉ số đều cho thấy vật giá của nhu yếu phẩm như lương thực và xăng dầu lại giảm. Việc dầu thô sụt giá có góp phần làm giảm nguy cơ lạm phát nên Ngân hàng Trung ương Mỹ chưa vội tăng lãi suất
Nguyễn-Xuân Nghĩa
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Định chế này có cả chục trung tâm nghiên cứu rất có uy tín của hệ thống ngân hàng dự trữ ở 12 khu vực trên toàn quốc và tại trung ương họ cũng có bộ phận thường xuyên theo dõi tình hình kinh tế Hoa Kỳ để dự đoán về tương lai. Từ nhiều năm nay, họ thông báo là sẽ áp dụng một chính sách linh động để thứ nhất duy trì mức lạm phát ở khoảng 2% mà thôi và thứ hai là đạt tỷ lệ thất nghiệp trong dài hạn ở khoảng từ 5% đến 5,5%. Sau mỗi kỳ họp của Ủy ban Tiền tệ FOMC thì Thống đốc cũng có một thông báo ngắn gọn về quyết định của Ủy ban.
Vì lãi suất ngắn hạn được duy trì quá lâu ở gần số không, khi thất nghiệp tại Mỹ đã giảm tới mức 5,5%, các thị trường tài chính tại Hoa Kỳ và quốc tế đều cho là lãi suất tại Mỹ sẽ tăng. Họ theo dõi các thống kê kinh tế lẫn từng lời phát biểu của Ngân hàng Trung ương để dự đoán là tăng bao nhiêu điểm qua mấy đợt, vào thời điểm nào, như Tháng Sáu hay Tháng Chín, Tháng 10 năm nay hay năm tới. Các phát biểu và bình luận ấy đều tác động ngay vào thị trường theo kiểu biện chứng.
Thí dụ như hôm Thứ Sáu mùng sáu đầu tháng, khi Bộ Lao động cho biết thất nghiệp đã giảm thì lập tức cổ phiếu tại Mỹ sụt giá mạnh. Tức là một tin vui về kinh tế dẫn tới kết luận là lãi suất sẽ tăng, mà lãi suất tăng thì doanh lợi giảm nên thị trường chứng khoán mất giá. Cùng lúc ấy, thị trường hối đoái hay ngoại hối cũng biến động vì lãi suất tăng sẽ làm đô la lên giá nữa và nếu đô la lên giá thì các tập đoàn thiên về xuất khẩu sẽ khó bán hàng hơn và mất lời, nên cổ phiếu của các doanh nghiệp này cũng sụt giá từ một tin vui!
Việt Long: Phải theo dõi từng loạt tin tức và những chuỗi lý luận theo kiểu liên hoàn mắc mứu với nhau như vậy thì ông dự đoán ra sao về lãi suất ngắn hạn tại Hoa Kỳ, và về đồng đô la?
Nguyễn-Xuân Nghĩa: - Chúng ta thật khó biết trước được vì hoàn cảnh tôi xin gọi là “tranh tối tranh sáng” hiện nay. Quả thật là thất nghiệp đang trở lại mức bình thường trên bề mặt, nhưng bên dưới thì phẩm chất vẫn rất kém vì số người thật sự tham gia thị trường lao động còn ở mức thấp nhất từ mấy chục năm nay. Xét theo một khía cạnh khác thì lợi tức của lực lượng lao động này, đo ở mức lương bình quân, thì cũng còn quá thấp mà đa số thành phần kiếm ra việc đều có lương thấp nên hy vọng có thể tăng mức tiêu xài và kích thích sản xuất thật ra vẫn còn mong manh. Vì thế, chưa chắc là lãi suất tại Mỹ sẽ tăng vào Tháng Ba này như một số người dự báo.
Huống hồ là ta nhìn vào tình hình vật giá tại Mỹ. Lãi suất có thể tăng khi lạm phát lên gần tới 2%, nhưng các chỉ số đều cho thấy vật giá của nhu yếu phẩm như lương thực và xăng dầu lại giảm. Việc dầu thô sụt giá có góp phần làm giảm nguy cơ lạm phát nên Ngân hàng Trung ương Mỹ chưa vội tăng lãi suất. Vì thế người ta thiên dần về kịch bản lãi suất tại Hoa Kỳ chỉ tăng rất nhẹ từ Tháng Chín, Tháng 10, qua tới năm sau mới nhúc nhích. Nhưng chẳng vì vậy mà đô la sẽ ngừng lên giá vì hối suất hay tỷ giá đồng bạc này còn tùy vào các nền kinh tế và ngoại tệ khác.
Kết luận ở đây là Hoa Kỳ lấy quyết định là vì quyền lợi của mình, nhưng các quyết định ấy đều có thể chi phối xứ khác và người ta nên mở tầm nhìn thật rộng để hiểu ra các yếu tố có thể tác động vào lợi tức, tài sản hay sự an toàn của mình.
Việt Long: Xin cảm tạ ông Nghĩa về việc phân tích này.



__._,_.___

Posted by: Dien bien hoa binh 

Monday, December 23, 2013

TRUNG CỘNG NHỮNG BƯỜC ĐI ĐẦY THAM VỌNG


On Monday, 2 December 2013 9:27 AM, anh truong <> wrote:

 
TRUNG CỘNG NHỮNG BƯỜC ĐI ĐẦY THAM VỌNG

tka23 post

Merry Christmas and Happy New Year 2014. Song "Happy Christmas (War Is Over)" by Celine Dion.

https://www.youtube.com/watch?v=p2RnVpl2J_c


Việc Trung Cộng  công  bố Khu vực xác định phòng không (ADIZ) trên Biển Hoa Đông có thể gây ra những hệ luỵ khó lường tại Đông Á.

Chiến thuật mới trong chiến lược cũ


Theo học giả Alexander Neill của Viện Nghiên cứu Chiến lược Quốc tế (IISS), khu vực ADIZ mà Trung cộng  tuyên bố bao gồm cả quần đảo tranh chấp Senkaku/Điều Ngư mà Nhật Bản tuyên bố chủ quyền từ trước, có thể dẫn đến những tính toán sai lầm và làm leo thang căng thẳng trong khu vực.
   Hành động đơn phương thiết lập khu vực ADIZ bộc lộ tham vọng của lãnh đạo nước này trong việc muốn thay đổi hiện trạng khu vực. Đây cũng là hành động tăng cường quân sự rõ rệt nhất kể từ khi ông Tập Cận Bình lên nắm quyền 1 năm trước.
Mặc dù vậy, các nhà lãnh đạo Trung cộng  đã tránh né tất cả những chỉ trích liên quan đến việc thiết lập khu vực ADIZ của mình và đẩy trách nhiệm sang phía Nhật Bản khi cho rằng các khu ADIZ mà Nhật Bản công bố trước đây cũng xâm lấn vào các vùng lãnh thổ mà Trung cộng  đã tuyên bố chủ quyền.
Hơn thế nữa, Trung cộng còn cho rằng Mỹ cũng phải chịu trách nhiệm về việc chính nước này đã giúp Nhật Bản, Hàn Quốc và Đài Loan thiết lập các khu vực ADIZ tương tự tại các quốc gia và vùng lãnh thổ này trong giai đoạn Mỹ thể hiện vai trò quân sự của mình tại khu vực Đông Á trong suốt thời kỳ Chiến tranh Lạnh.
Việc thiết lập khu vực ADIZ của Trung cộng nhắc người ta nhớ đến việc việc Quân đội Giải phóng nhân dân Trung Hoa (PLA) thiết lập hỏa tiển  bao vây Đài Loan năm 1996, khi Chủ tịch Trung cộng  lúc bấy giờ, ông Giang Trạch Dân, đã đơn phương ra lệnh thiết lập các khu vực cấm vào trên không và trên biển trong giai đoạn nước này thử nghiệm hàng loạt các hỏa tiển tại Đài Loan.
Tuyên bố thành lập khu ADIZ hiện nay của Trung cộng  càng khẳng định rõ ràng, rằng vấn đề các quần đảo tranh chấp Điếu Ngư/Senkaku là vấn đề quan tâm hàng đầu đối với Trung cộng . Nước này đã đặt việc tranh chấp này lên ngang hàng với những tranh chấp  của họ trên khu vực Biển Đông cũng như các vấn đề liên quan đến Đài Loan.
Bắc Kinh vẫn khăng khăng quan điểm rằng họ đã tuyên bố chủ quyền quần đảo tranh chấp Điếu Ngư/Senkaku từ thế kỷ 14 trong khi Tokyo nói rằng đó là những quần đảo không có cư dân sinh sống cho đến khi Nhật Bản chiếm đóng năm 1895.
Tranh cãi giữa hai nước nổ ra kể từ những năm 70 của thế kỷ trước nhưng gần đây lại càng leo thang mạnh mẽ hơn khi Trung cộng  muốn phô bày sức mạnh của mình cũng như giành lại ảnh hưởng trong khu vực.
Sách trắng Quốc phòng Trung cộng  đưa ra tháng 4 năm nay cũng đã thể hiện rõ quan điểm này khi mổ tả Nhật Bản như một “ nguyên nhân  gây rối” trong các tranh chấp biển đảo và việc Mỹ tăng cường quân sự của mình tại châu Á đã tạo ra những căng thẳng trong khu vực.

Những bước đi đầy tham vọng
Việc Mỹ đưa hai máy bay B-52 bay qua khu vực ADIZ của Trung cộng  hôm 26/11 là câu trả lời thích đáng cho lời tuyên bố của Trung cộng .
Nhìn từ bên ngoài, Trung cộng  đang không thể chứng tỏ được thực quyền tại khu vực này khi nước này rõ ràng là không thể bảo vệ được khu vực ADIZ của mình như những gì tuyên bố trước đó. 





Saturday, December 21, 2013

Hoa Kỳ tố cáo Trung Quốc ‘vô trách nhiệm’ khi cắt đường chiến hạm Mỹ trên Biển Đông


HOA KỲ-TRUNG QUỐC - 
Bài đăng : Thứ sáu 20 Tháng Mười Hai 2013 - Sửa đổi lần cuối Thứ sáu 20 Tháng Mười Hai 2013

Hoa Kỳ tố cáo Trung Quốc ‘vô trách nhiệm’ khi cắt đường chiến hạm Mỹ trên Biển Đông

Tuần dương hạm Mỹ USS Cowpens
Tuần dương hạm Mỹ USS Cowpens
U.S. Navy

Trọng Nghĩa  RFI

Trung Quốc đã hành động một cách « vô trách nhiệm » trong một vụ đối đầu với một chiếc tàu Hải quân Mỹ trong tháng này tại vùng Biển Đông. Trên đây là lời tố cáo đích danh của Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ Chuck Hagel hôm 19/12/2013. Đây là phản ứng chính thức đầu tiên của Washington về sự cố Mỹ - Trung mới trên Biển Đông từng được nhiều giới chức quốc phòng Hoa Kỳ tiết lộ trong những ngày qua, và mới chỉ được Bắc Kinh xác nhận ngày 18/12.

Phát biểu nhân một cuộc họp báo chung với Tướng Martin Dempsey, Chủ tịch Hội đồng Tham mưu trưởng Liên quân Mỹ, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng Chuck Hagel nhận định : « Hành động đó của Trung Quốc, cắt ngang đường đi phía trước... chỉ cách khoảng 100 mét trước mũi tàu Cowpens, không phải là một hành động có trách nhiệm ». Lãnh đạo Lầu Năm Góc bình luận thêm : « Đó là một hành động vô ích, vô trách nhiệm. »
Nhận định của ông Hagel là phản ứng công khai đầu tiên của một quan chức cấp cao tại Lầu Năm Góc kể từ khi sự cố xảy ra cách đây hai tuần, cụ thể là ngày 05/12/2013.
Theo một số viên chức quân sự Mỹ thì vào hôm đó, tuần dương hạm Mỹ có tên lửa dẫn đường USS Cowpens, khi đang đi trên Biển Đông, trong hải phận quốc tế, đã phải bẻ lái để tránh va chạm với một tàu đổ bộ Trung Quốc đã có thao tác chặn đường nguy hiểm. Chiếc tàu Trung Quốc này thuộc đội chiến hạm tháp tùng theo tàu sân bay Liêu Ninh được Bắc Kinh phái xuống tập trận trên Biển Đông.
Rút tỉa kinh nghiệm từ vụ đối đầu trên biển lần đầu tiên từ nhiều năm nay giữa Hải quân Mỹ và Trung Quốc, ông Hagel nêu bật sự cần thiết phải có thủ tục rõ ràng giữa quân đội hai nước để tránh nguy cơ đụng độ hoàn toàn có thể xẩy ra trong vùng Thái Bình Dương.
Đối với Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ, sự cố như vừa xẩy ra là « một thứ rất dễ gây cháy, có thể là ngòi nổ hoặc tia lửa làm cho một tính toán sai lầm nào đó nổ tung ». Do đó, theo ông, hai bên cần làm việc « để có một cơ chế có khả năng làm dịu một số vấn đề khi xảy đến ».
Bộ Quốc phòng Trung Quốc đã chính thức loan báo vụ việc nhưng giảm nhẹ mức độ nghiêm trọng của sự cố vào hôm 18/12, trái ngược hẳn với giọng điệu hung hăng của báo chí nước này, tố cáo chiến hạm Mỹ là đã gây nguy hiểm cho hạm đội Trung Quốc trên Biển Đông.



Monday, November 18, 2013

Quá nhỏ mọn với Philippines, quyền lực mềm TQ xuống dốc thảm hại


 

 

 

Quá nhỏ mọn với Philippines, quyền lực mềm TQ xuống dốc thảm hại

                        


Khoản viện trợ đầu tiên mà Trung Quốc tuyên bố sẽ hỗ trợ Philippines khắc phục hậu quả siêu bão Haiyan chỉ có giá trị vỏn vẹn 100.000 USD, một số tiền mà truyền thông và các nhà phân tích trên thế giới cho rằng quá ít ỏi, nếu không muốn nói là "bủn xỉn" so với khả năng của nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới.

Số tiền này cũng quá nhỏ bé so với số tiền mà các quốc gia khác đã cam kết viện trợ cho Philippines. Ví dụ như các tiểu vương quốc Arab thống nhất đã cam kết viện trợ 10 triệu USD, các nền kinh tế nhỏ hơn Trung Quốc như Hàn Quốc và Úc cũng cam kết viện trợ khoản tiền lần lượt là 10 triệu USD và 5 triệu USD.

Trong khi đó, ngay sau khi cơn bão qua đi, Mỹ đã triển khai lực lượng thủy quân lục chiến khoảng 90 người đến Philippines cùng với khoản viện trợ trị giá 20 triệu USD.

Philippine tan hoang sau siêu bão Haiyan, đây là thời điểm họ cần sự chung tay của cộng đồng quốc tế để khắc phục hậu quả.

Philippine tan hoang sau siêu bão Haiyan, đây là thời điểm họ cần sự chung tay của cộng đồng quốc tế để khắc phục hậu quả.

Tạp chí The Diplomat (Nhật Bản) nhận định, cùng với việc đáp ứng nhu cầu về nhân lực cứu trợ thì việc hỗ trợ để giảm nhẹ hậu quả thiên tai được xem là một khoản đầu tư hiệu quả mà không tốn kém cho tương lai.

Joseph Nye, giáo sư tại Đại học Harvard, cựu Trợ lý Bộ trưởng Quốc phòng Mỹ đã sử dụng thuật ngữ “quyền lực mềm” khi mô tả về những khoản đầu tư theo kiểu này. Theo ông Nye, “quyền lực mềm” là một quá trình thu phục lòng người, giúp quốc gia đó đạt được kết quả mong muốn bằng sự đồng thuận hay vì phải viện tới các hành động thể hiện "quyền lực cứng" như hành động quân sự hoặc trừng phạt kinh tế.

Sự thể hiện quyền lực mềm bằng cách hành động như cứu trợ thiên tai là một phần quan trọng của chính sách đối ngoại bởi nó mang lại lợi ích thương mại lâu dài. Các nỗ lực cứu trợ khổng lồ của Mỹ đối với thảm họa động đất sóng thần năm 2004 đã giúp Mỹ xây dựng một hình ảnh đầy thiện chí trong mắt Indonesia và đồng minh lâu năm Thái Lan.

Là nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới nhưng Trung Quốc chỉ cam kết viện trợ cho Philippine số tiền chỉ 100.000 USD. Ảnh minh họa

Là nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới nhưng ban đầu, Trung Quốc chỉ cam kết viện trợ cho Philippine số tiền vỏn vẹn 100.000 USD

Ông Jonah Blank, một nhà khoa học chính trị cao cấp tại tổ chức phi lợi nhuận RAND, cựu giám đốc chính sách đối ngoại khu vực Đông Nam Á và Đông Á tại Ủy ban đối ngoại Thượng viện Mỹ cho rằng, những nỗ lực cứu trợ của Mỹ trong thảm họa sóng thần có thể được xem là một trong những lý do cụ thể nhất khiến hầu hết các quốc gia Đông Nam Á tin tưởng, chứ không sợ hãi khi Mỹ triển khai kế hoạch tái cân bằng tại châu Á.

Trung Quốc cũng từng được công nhận là có quyền lực mềm đối với một số quốc gia khác. Năm 2007, cựu Chủ tịch, Tổng bí thư Đảng Cộng sản Trung Quốc Hồ Cẩm Đào đã kêu gọi lãnh đạo cấp cao của đảng gia tăng quyền lực mềm của họ. Trước đó, kể từ năm 2004, chính quyền Trung Quốc đã bắt tay vào thực hiện một chiến dịch nhằm mục đích đưa ngôn ngữ và văn hóa Trung Quốc dẫn đầu thế giới bằng cách xây dựng hàng loạt Viện Khổng tử bằng quỹ phi lợi nhuận của chính phủ.

Theo Giáo sư Nye, một cường quốc đang lên như Trung Quốc nên sử dụng quyền lực mềm để khiến sức mạnh kinh tế, quân sự ngày càng phát triển của mình trở nên bớt đáng sợ trong mắt các quốc gia láng giềng.

Mỹ tiếp tục khẳng định quyền lực mềm tại ĐNA bằng những cam kết viện trợ khổng lồ cho Philippine.

Mỹ tiếp tục khẳng định quyền lực mềm tại ĐNA bằng những cam kết viện trợ khổng lồ cho Philippine.

Thật không may, chính phủ Trung Quốc đã bỏ lỡ hai bài học quan trọng liên quan đến quyền lực mềm. Bài học thứ nhất là quyền lực mềm được phát triển hiệu quả hơn thông qua xã hội dân sự. Tất cả mọi thứ, từ trường đại học tới các tổ chức văn hóa đại chúng, đều có một sức hấp dẫn mạnh mẽ đối với các xã hội và nền văn hóa khác. Trung Quốc quá quan tâm đến vai trò của chính phủ, trong khi đó, đó lại là công cụ ít hiệu quả nhất, bởi tất cả những nỗ lực của chính phủ trong việc xây dựng quyền lực mềm hiếm khi mang lại hiệu quả.

Bài học thứ 2 là, cứu trợ thiên tai có lẽ là phương pháp hiệu quả nhất giúp lực lượng quân sự có được quyền lực mềm. Trung Quốc đã nhiều lần khẳng định chủ quyền của mình tại bãi cạn Scarborough tranh chấp với Philippines bằng cách triển khai tàu chiến hải quân, cảnh sát biển và tàu hải giám đến khu vực này. Sự thiếu hỗ trợ thiên tai cho Philippines sau bão Haiyan là một bằng chứng cho ý định lâu dài của Trung Quốc.

Sự lạnh nhạt này của Trung Quốc đối với Philippines đã phản ánh sự bất mãn của Bắc Kinh đối với việc Manila đã gửi đơn kiện lên Toà án Quốc tế về vấn đề tranh chấp chủ quyền tại Scarborough.

Đây là lần đầu tiên Trung Quốc bị khởi kiện lên Toà án Quốc tế, bởi vậy, nước này đang rất tức giận bởi nếu bị thua thì điều này sẽ ảnh hưởng nghiêm trọng tới tham vọng của Bắc Kinh ở biển Đông và khuyến khích các quốc gia khác nhờ Liên Hợp Quốc can thiệp để phản đối tuyên bố chủ quyền của Trung Quốc.

Trung Quốc thường nhấn mạnh rằng, tranh chấp chủ quyền trên biển Đông nên được giải quyết thông qua đàm phán song phương nhằm sử dụng sức mạnh cứng của họ mà các nước trong khu vực không theo kịp để đạt kết quả mong muốn.

Siêu bão Haiyan đã mang lại cho Bắc Kinh một cơ hội để chứng minh rằng họ có thể là một nước lớn có trách nhiệm trong khu vực, thể hiện mặt mềm mỏng hơn của mình đối với những tham vọng tại Đông Nam Á. Đáng tiếc là họ đã thất bại thảm hại.

Thời báo Hoàn Cầu, một tờ báo nhà nước được đánh giá là khá hung hăng, hiếu chiến thậm chí cũng đã có một bài bình luận cảnh báo rằng: "Hình ảnh quốc tế của Trung Quốc có tầm quan trọng sống còn đối với những lợi ích của đất nước. Nếu lạnh nhạt với Philippines, Trung Quốc sẽ phải chịu sự thiệt hại lớn".

Trước sự chỉ trích nặng nề từ cộng đồng quốc tế, hôm 14/11, phát ngôn viên Trung Quốc Tần Cương đã tuyên bố trong phiên họp báo thường kì rằng nước này sẽ tăng viện trợ cho Philippines lên 1,6 triệu USD. Đồng thời, chủ tịch Tập Cận Bình đã gọi điện thoại chia buồn với Tổng thống Philippines Benigno Aquino.

Song động thái "chữa cháy" này của Trung Quốc dường như vẫn không xoá được tiếng xấu, bởi nó khiến hình ảnh của Trung Quốc trong mắt thế giới trở thành keo kiệt và so đo với những ngay cả người đang phải trải qua tình cảnh khốn đốn.

Nhiều chuyên gia trên thế giới nhận định, việc Trung Quốc để các tác nhân chính trị ảnh hưởng tới việc viện trợ nhân đạo cho Philippines đã làm giảm đi sự tin cậy từ các quốc gia trên thế giới. Ông Joseph Cheng, giáo sư ngành khoa học chính trị tại Đại học City ở HongKong cũng đồng tình khi cho rằng "việc viện trợ và cứu trợ cho các thảm họa thiên nhiên không nên bị ảnh hưởng bởi các mối quan hệ chính trị".

~~~~~~~~~~~~~~~

Tiền Trung Quốc góp cho Philippines chỉ đủ mua...9 chai rượu

                         


Đúng là Philippines đang chìm trong thảm họa thiên nhiên,

nhưng hình ảnh của Trung Quốc cũng đang chìm trong “thảm họa danh dự”.

Trong lúc hàng trăm nghìn con người tại Philippines đang vật lộn để tìm thức ăn, nước uống, chỗ trú ngụ và chôn cất xác người thân sau cơn bão Haiyan, Trung Quốc đã nhanh chóng trích ra từ kho dự trữ tiền tệ lớn nhất thế giới trị giá 3,7 nghìn tỷ USD của mình và trao cho Philippines…vỏn vẹn 100.000 USD (!).

Đó là khoản cứu trợ chính thức đầu tiên Trung Quốc gửi chính phủ Philippines. Đến thứ 5 ngày 15/11, để gỡ gạc lại danh dự trước làn sóng chê bai khắp thế giới, Trung Quốc vội vã chuyển đồ cứu trợ trị giá 1,6 triệu USD đến tâm bão. Nhưng hành động này không cứu vãn được danh dự của một cường quốc đang nổi nhưng mang tiếng “bủn xỉn”.

Đúng là Trung Quốc còn nhiều dân nghèo, đúng là quan hệ Trung Quốc - Philippines đang căng thẳng, nhưng đó đường đường là “con rồng châu Á”, nếu được phép gửi ý kiến tới Chủ tịch Tập Cận Bình, tôi sẽ khuyên ông điều ngay một nhóm cứu viện hùng hậu đến Philippines.”, ông Ian Bremmer – Tổng Giám đốc tập đoàn Eurasia tại New York chia sẻ.

Trong khi các nước đang dốc hầu bao quyên góp nhằm chia sẻ thiệt hại với nước bạn: Úc góp 28 triệu USD, Mỹ góp 20 triệu USD, Liên minh châu Âu góp 17 triệu USD, Anh góp 16 triệu USD, Nhật góp 10 triệu USD, Hàn Quốc góp 5 triệu USD, Vatican góp 4 triệu USD, Indonesia góp 2 triệu USD cùng nhiều tổ chức phi chính phủ khác, trong đó chỉ riêng các tổ chức tại Mỹ đã quyên góp được 300 triệu USD trị giá viện trợ.

Tiền Trung Quốc góp cho Philippines chỉ đủ mua...9 chai rượu

100.000 USD của Trung Quốc chỉ đủ mua 9 chai rượu loại này. (Ảnh: BP)

Vậy mà số tiền cả Trung Quốc gửi đi chỉ bằng số tiền nghệ sỹ trượt băng nghệ thuật Hàn Quốc Kim Yu-na đóng góp, 100.000 USD chỉ đủ để mua…9 chai rượu 2006 Romanee-Conti.

Đặt lên bàn cân so sánh với nhiều nước khác, sự “nhỏ mọn” của Trung Quốc càng lộ rõ thêm. New Zealand có nền kinh tế trị giá 167 tỷ USD, chỉ bằng một góc con số 8,4 nghìn tỷ USD tại Trung Quốc. Nhưng chính phủ Wellington đã chung tay góp sức được tới 1,7 triệu USD.

Nguyên nhân do đâu?

Mối bang giao chặt chẽ giữa chính phủ Manila và Washington từ lâu đã khiến Trung Quốc đứng ngồi không yên. Tổng thống Philippines - ông Benigno Aquino cũng kiên quyết không lùi bước trước sự xâm lấn của Trung Quốc tại khu vực biển Đông, và làm Bắc Kinh nổi giận khi đâm đơn kiện Trung Quốc lên Ủy ban Trọng tài Liên hiệp quốc về yêu sách chủ quyền phi lý ở biển Đông. Nhưng đây hoàn toàn là vấn đề chính trị riêng rẽ.

Ông Joseph Cheng, giáo sư khoa học chính trị Đại học Hồng Kông chuyên nghiên cứu mối quan hệ của Trung Quốc với Đông Nam Á, phát biểu: “Các nhà lãnh đạo Trung Quốc đã bỏ lỡ một cơ hội thể hiện lòng hào hiệp của mình. Khoản viện trợ ít ỏi đó không thể cải thiện mối quan hệ vốn đã mong manh (với Manila)”.

Để tự chữa ngượng, Trung Quốc đã gửi thêm 200.000 USD tới Philippines qua Hội chữ thập đỏ. Nhưng kể cả vậy, tổng cứu trợ của nước này còn ít hơn khoản nhận được từ chính Philippines trị giá 450.000 USD khi động đất Tứ Xuyên xảy ra năm 2008. Cho đến bây giờ, tổng khoản cứu trợ của Trung Quốc vẫn ít hơn khoản tiền 4,88 triệu USD nước này gửi Pakistan sau trận động đất xảy ra 2 tháng trước.

“Quyền lực mềm”

Sự việc này, nhìn trên góc độ vĩ mô, thuộc một trong những nguyên nhân dẫn đến việc Trung Quốc không tạo dựng được hệ thống “quyền lực mềm”. Thay vì dùng văn hóa, chính sách ngoại giao khôn khéo để kết thân với các nước trên thế giới, Trung Quốc chỉ dùng tiền. Trung Quốc rót rất nhiều tiền đầu tư vào các nước như xây dựng đường sắt tại Indonesia, hầm ngầm tại Brazil, điện lực tại Campuchia, thủy điện tại Lào, cầu đường tại Việt Nam, đường sá tại Zambia, nhà máy tại Malaysia, sân bay tại Myanmar, dàn khoan tại Uzbekistan, nhưng đổi lại, Trung Quốc muốn nắm toàn bộ quyền chi phối. Đó cũng là thông điệp Trung Quốc đang gửi đến Philippines.

Chuyên gia về các vấn đề thương mại Arvind Subramanian của Viện Nghiên cứu Kinh tế Quốc tế Peterson có trụ sở ở Washington nhận định: “Trung Quốc sẽ rất hùng mạnh, nhưng theo một cách lập dị.”, nước này chỉ có thể thâu tóm vật chất chứ không phải tình cảm từ thế giới. “Họ sẽ không bao giờ đạt được thứ quyền lực mềm mà Mỹ có – mọi người muốn tới Mỹ, sống ở Mỹ, noi gương Mỹ.”

Có lẽ Trung Quốc đừng nên viện trợ Philippines, có lẽ ông Tập Cận Bình nên giữ khoản tiền đó lại và thuê cho Trung Quốc một công ty quảng cáo cộng đồng. Bởi lẽ đúng là Philippines đang chìm trong thảm họa thiên nhiên, nhưng hình ảnh của chính Trung Quốc cũng đang chìm trong “thảm họa danh dự”.

 

~~~~~~~~~~~~~~~~~~~~

Thursday, November 7, 2013

TÀI LIỆU BỌN TRUNG CỌNG HIỆN CHIẾM GIỮ ĐẤT VIỆT NAM.


 

 

From: an Do <>
To:
Sent: Sunday, September 1, 2013 4:48 PM
Subject: TÀI LIỆU BỌN TRUNG CỌNG HIỆN CHIẾM GIỮ ĐẤT VIỆT NAM

 

TÀI LIỆU BỌN TRUNG CỌNG HIỆN CHIẾM GIỮ ĐẤT VIỆT NAM.

 


Sau chiến tranh biên giới 1979, mặc dù tuyên bố rút quân, nhưng quân Trung Quốc vẫn chiếm đóng khoảng 60km2 lãnh thổ biên giới có tranh chấp mà trước đó Việt Nam kiểm soát, trong đó có 300m đường xe lửa giữa Hữu Nghị Quan và trạm kiểm soát biên giới Việt Nam. Trung Quốc cũng chiếm một số điểm cao chiến lược dọc biên giới Việt Nam, nhằm làm bàn đạp cho các cuộc tấn công quân sự sau này.

Vùng quanh 
Bình Liêu nơi Trung Quốc tiến hành lấn chiếm
Kể từ nửa sau năm 1988, tình hình căng thẳng trên biên giới hai nước lắng xuống, rồi tới cuối năm các hoạt động buôn bán qua lại biên giới bắt đầu trở lại. Hai phía bắt đầu nối lại các hoạt động đàm phán về bình thường hóa quan hệ và giải quyết vấn đề biên giới.


Quan hệ giữa hai nước đặc trưng bởi hình ảnh hữu hảo của các chuyến viếng thăm cao cấp qua lại giữa hai nước, diễn ra đồng thời với sự căng thẳng liên quan đến chủ quyền lãnh thổ, đặc biệt là trên biển Đông, cả hai bên tiếp tục tuyên bố khẳng định chủ quyền trên các vùng có tranh chấp.

Trên bộ, sự kiện nghiêm trọng nhất là việc tháng 5 năm 1997 Trung Quốc cho xây dựng một bờ kè kéo dài một cây số tại khúc sông chảy qua Đồng Mô, thuộc huyện 
Bình Liêu, tỉnh Quảng Ninh đối diện với khu Fangcheng, tỉnh Quảng Tây, Trung Quốc. Theo Việt Nam, việc làm này vi phạm Thỏa ước tạm thời giữa hai phía không thay đổi nguyên trạng hiện trường, gây hại đến hệ thống thủy lợi tưới tiêu, cũng như làm xói lở đất bên bờ sông thuộc Việt Nam.

Để đáp lại, tới tháng 9 cùng năm, Việt Nam cho xây một bờ kè đá để chống xói lở. Tới tháng 11, Trung Quốc cho lấp khúc sông biên giới, và như vậy đã lấn vào lãnh thổ Việt Nam hai hecta. Điều đáng nói là các hoạt động trên diễn ra tại khu vực mà theo phía Việt Nam là biên giới xác định rõ ràng, tức trước dó không có tranh chấp.

Tại vòng đàm phán thứ 11 về biên giới vụ việc này được đặt ra, nhưng không có thông tin cho biết liệu hai bên có đi đến giải pháp nào cho khu vực này.

Tranh cãi và nghi vấn quanh Hiệp định biên giới
Cột mốc biên giới Việt Nam - Trung Quốc số 53 thời Pháp - Thanh, với hàng chữ Trung Quốc: 中國廣西界 (Trung Quốc - Quảng Tây giới) và hàng chữ Pháp: Frontière sino-annamite (Biên giới Trung Quốc - An Nam).
Từ đầu năm 1990, Trung Quốc và Việt Nam bắt đầu tiến hành đàm phán để giải quyết vấn đề biên giới. Hai bên đạt được các thỏa thận trên nguyên tắc năm 1993 để giải quyết các bất đồng, nhưng do sự thù địch giữa hai phía do cuộc 
chiến tranh 1979 để lại, cộng với cả một thập kỷ xung đột biên giới, khiến cho mãi tới năm 1999 hai bên mới đạt được những thỏa thuận cuối cùng.

Trong số những trở ngại cho việc ký kết hiệp định cũng phải kể đến vấn đề tháo dỡ mìn trên biên giới, và sự chống đối từ nội bộ của cả hai phía về việc nhượng bộ cho đối thủ cũ của mình.Việc hai nước ký kết bản Hiệp định góp phần đóng lại một chương quan trọng trong lịch sử quan hệ Việt Nam-Trung Quốc, đánh dấu bởi sự thù nghịch và các cuộc xung đột vũ trang đẫm máu.

Tuy nhiên, bản Hiệp định này không đồng nghĩa với việc kết thúc các khó khăn trong việc xác định chính xác đường biên được hoạch định trên giấy tờ, cũng như căng thẳng tại một số vị trí cột mốc biên giới, và vấn đề buôn lậu qua biên giới. Bản Hiệp định này, cộng với Hiệp định Phân định Vịnh Bắc Bộ làm dấy lên những cuộc tranh cãi gay gắt tại Việt Nam, vì theo như bản hiệp định này, đường biên giới mới khiến Trung Quốc giành được quyền sở hữu một số vùng lãnh thổ mà trước đó Việt Nam tuyên bố chủ quyền. Sự giận dữ này không phải là không có lý, nhưng phải thừa nhận là Trung Quốc không áp đặt được tham vọng bành trướng của mình lên Việt Nam qua bản Hiệp định.

Theo như Carlson, bản Hiệp định là kết quả thỏa hiệp đến từ cả hai phía.] Vấn đề lãnh thổ trên Biển Đông mới thực sự là vấn đề mà cả hai phía có sự bất đồng sâu sắc khó giải quyết. Trung Quốc qua việc giải quyết vấn đề tranh chấp lãnh thổ biên giới trên bộ thể hiện lập trường linh hoạt, giảm bớt vẻ hung hăng trong đàm phán với Việt Nam.

Có quan điểm cho rằng Việt Nam đã mất một số lãnh thổ trong cuộc chiến này như                                  
Lê Chí Quang thì Việt Nam đã nhượng cho Trung Quốc 720 km2, cũng như một bộ phận người Việt ở hải ngoại thì cho rằng chính phủ Việt Nam đã nhường đất cho Trung Quốc và cần đòi lại bằng vũ lực hoặc bằng công pháp quốc tế. Trên thực tế, khi tiến hành đặt cột mốc nằm ở điểm cực đông biên giới, người ta phát hiện ra rằng một số làng Việt Nam nay nằm ở phía bên kia biên giới Trung Quốc. Tin Việt Nam mất đất dẫn đến sự chống đối rộng khắp từ cộng đồng Việt Nam hải ngoại, và việc những nhà bất đồng chính kiến tích cực nhất trong nước bị bắt giữ. Tổng bí thư Đảng Cộng sản Việt Nam khi bản Hiệp định được ký là Lê Khả Phiêu đã phải chịu chỉ trích nặng nề vì đã "tỏ ra quá mềm mỏng với Trung Quốc" trong kỳ Đại hội Đảng tháng 4 năm 2001.

Kết quả là ông bị thay thế bởi Nông Đức Mạnh trong kỳ bầu cử đó. Theo Carlyle Thayer, Lê Khả Phiêu bị buộc tội theo đuổi chính sách "thân Trung Quốc", thậm chí "ra chỉ thị nhượng bộ" trong quá trình đàm phán biên giới trên Vịnh Bắc Bộ, dẫn đến Việt Nam có thể bị thiệt đến 3.200 hải lý vuông (khoảng 11 ngàn km2) lãnh hảiThứ trưởng Bộ ngoại giao Việt Nam Lê Công Phụng, Trưởng đoàn đàm phán cấp Chính phủ về biên giới, lãnh thổ Việt Nam - Trung Quốc cho biết: tại thác Bản Giốc, Việt Nam chỉ có 1/3 thác, nhưng nhờ thương thuyết cho nên Trung Quốc nhượng bộ, thành ra Việt Nam được 1/2 thác. Lê Công Phụng cũng cho rằng các tin chung quanh vấn đề nhượng đất nhượng biển chỉ là tin đồn. Riêng vấn đề thác Bản Giốc, trả lời câu hỏi là người ta cho rằng Việt Nam nhượng 1/2 thác thì ông Phụng trả lời rằng tin đó cũng chỉ là tin đồn, không xác thực.

Chính phủ Việt Nam luôn nhắc tới tình hữu nghị truyền thống giữa hai nước và hai Đảng anh em mà giải quyết vấn đề biên giới và lãnh thổ bằng thương lượng ngoại giao, từng bước giải quyết trên tinh thần hữu nghị, anh em. Ngày 19 tháng 6 năm 2000, Quốc hội Việt Nam đã công bố nghị quyết về "Hiệp ước biên giới trên đất liền giữa Việt Nam và Trung Quốc" được thông qua tại kỳ họp thứ 7, Quốc hội khóa X họp từ ngày 9 tháng 5 năm đến ngày 9 tháng 6. Theo ông Lê Công Phụng Trưởng đoàn đàm phán biên giới "Việc có mất đất hay không là phụ thuộc vào việc cắm mốc, chỉ cắm mốc chệch đi vài trăm mét là mất nhiều đất lắm",Kết quả Hiệp định biên giới năm 1999
Theo Thứ trưởng Ngoại giao Vũ Dũng, đến 31/12/2008, hai bên đã phân giới khoảng 1.400km biên giới, cắm 1.971 cột mốc, trong đó có 1.549 cột mốc chính và 422 cột mốc phụ. Toàn bộ 38 chốt quân sự trên đường biên giới đều đã được dỡ bỏ. Tại cửa khẩu Hữu Nghị Quan, Việt Nam và Trung Quốc đã tiến hành cắm mốc 1117 trùng với vị trí mốc 19 cũ, đường biên giới đi qua Km số 0, mốc 19 cũ đến điểm cách điểm nối ray hiện tại 148m. 

Khu vực cửa sông Bắc Luân năm 1888. Công ước năm 1887 giữa Pháp và nhà Thanh lấy cửa sông này làm đường biên giới

Tại khu vực 
thác Bản Giốc, theo quy định của Hiệp ước 1999, hai nước điều chỉnh đường biên giới đi qua cồn Pò Thoong, qua dấu tích trạm thủy văn xây dựng những năm 1960, quy thuộc 1/4 cồn, 1/2 thác chính và toàn bộ thác cao cho Việt Nam.
Tại cửa 
sông Bắc Luân, biên giới quy thuộc 3/4 bãi Tục Lãm và 1/3 bãi Dậu Gót cho Việt Nam, 1/4 bãi Tục Lãm và 2/3 bãi Dậu Gót cho Trung Quốc, và thiết lập khu giao thông đường thuỷ tự do cho nhân dân địa phương sử dụng luồng hai bên bãi Tục Lãm và Dậu Gót. Tại khu vực Hoành Mô, đường biên giới đi giữa ngầm như từ trước đến nay chứ không theo trung tuyến dòng chảy qua cống mới do Trung Quốc xây dựng những năm 1960. Khu vực mồ mả ở mốc 53 - 54 cũ (Cao Bằng) được giữ lại cho người dân Việt Nam mặc dù hai bên có nhận thức khác nhau về quy định của Hiệp ước 1999 về biên giới khu vực này đi theo chân núi. Khu vực rừng hồi người dân Trung Quốc trồng gần biên giới Quảng Ninh được bảo lưu cho phía Trung Quốc.

Theo Hiệp ước 1999, đường biên giới cắt ngang qua bản Ma Lỳ Sán (gồm 05 hộ, 35 khẩu thuộc tỉnh Hà Giang) và khu 13 nóc nhà của người dân Trung Quốc gần 
Lạng Sơn, hai bên hoán đổi cho nhau trên cơ sở cân bằng diện tích, không xáo trộn đời sống dân cư..

Người Sưu Tầm

***

Cuộc chiến ở Lão Sơn kéo dài từ 1984 đến năm 1988, nhưng nhân dân VN hoàn toàn bị bưng bít, không ai biết gì về trận Lão Sơn cả. Lão Sơn mất, và Hà Nội không giành lại được.

Vì sao Hà Nội không vinh danh những anh hùng giữ gìn đất mẹ ở tỉnh Hà Giang? HN bưng bít đến nổi các hãng thông tấn AFP, AP, Reuters cũng không hề biết.

Vì sao mất đất, mất biển mà người dân không được quyền biết?

Tài liệu cuộc chiến 1984 - 1988

 

Trận Lão Sơn qua tường thuật của một Trung đoàn trưởng Pháo binh Trung Cộng

Trung đoàn trưởng Trung Cộng tường thuật như sau:

 

“Núi Lão Sơn cao 1422 m so với mặt nước biển, nằm trong lãnh thổ VN, gọi là Núi Đất hay cao điểm 1509 do quân đội VN trấn giữ.

Đầu năm 1984, trung đoàn của tôi được lịnh chiếm núi Lão Sơn.

Ngày 18-2-1984
Trung đoàn tiến tới Ei-Liang.

Ngày 20-2-1984
Tới đồi Ma-Sho Hill. Có 40 ngày chuẩn bị.

Ngày 1-4-1984
Tìm vị trí địch.
3 Đại đội ra quân. Họ bắn vài phát rồi rút lui, để buộc địch bắn trả, tự làm lộ vị trí. Chúng tôi dùng súng nặng để trấn áp. Địch mắc kế.

Ngày 26-4-1984
Đơn vị đặc nhiệm pháo binh 119 được thành lập.
Lập căn cứ hỏa lực.
Chúng tôi tiến quân ban đêm, tuyệt đối không gây một tiếng động nào. Pháo 85 ly được tháo rời ra, khi tới vị trí, ráp súng lại. Dùng những tấm trải giường màu trắng lót để thấy đường mà đi. Dàn hỏa lực cách địch (Bộ đội VN) 500 m. Đại đội 4 gần địch nhất, nên pháo binh bắn thẳng.

Ngày 28-4-1984
Tiền pháo hậu xung.

5 giờ 50 sáng, pháo binh bắt đầu khai hỏa. Sau 54 phút bắn dồn dập không ngừng, mặt đất rung chuyển.

6 giờ 24 phút. Khi ngừng pháo, bộ binh xông lên. Quân VN phản ứng liền trong 2 phút. Loạt súng đầu tiên bắn hạ một trung đội trưởng, một đồng chí đầu tiên hy sinh ở núi Lão Sơn. Pháo binh chúng tôi bắn hỗ trợ cho bộ binh. Bộ binh tiến lên, nhảy từ thùng đạn nầy đến thùng đạn khác. Sau 9 phút, bộ binh chiếm được cao điểm 662, và sau 54 phút, Lão Sơn rơi vào tay chúng tôi.

15 giờ 30, 20 cao điểm khác ở phía đông ngọn đồi 662 cũng bị chúng tôi chiếm. Chúng tôi đã bắn cháy xe tăng địch với 5 quả pháo bắn thẳng.” (Hết trích)

Cuộc chiến ở Lão Sơn kéo dài từ 1984 đến năm 1988, nhưng nhân dân VN hoàn toàn bị bưng bít, không ai biết gì về trận Lão Sơn cả. Lão Sơn mất, và Hà Nội không giành lại được.

Vì sao Hà Nội không vinh danh những anh hùng giữ gìn đất mẹ ở tỉnh Hà Giang? HN bưng bít đến nổi các hãng thông tấn AFP, AP, Reuters cũng không hề biết.

Vì sao mất đất, mất biển mà người dân không được quyền biết?

Trung đoàn trưởng Trung Cộng thuật tiếp:

“Ngày 11-6-1984

3 giờ sáng. Một phát đạn được bắn lên. Chúng tôi đang hỏi nhau, việc gì đã xảy ra. Trong suốt 30 phút, không liên lạc được với các đơn vị khác bằng điện thoại. Tiểu đoàn 2 thám thính cũng bị mất liên lạc. Duy nhất, một trung đội trưởng liên lạc được với tôi, yêu cầu pháo binh bắn yểm trợ. Tôi từ chối, với lý do là các đơn vị bạn đang ở trong vị trí đó. Tôi yêu cầu tiểu đoàn 2 thám thính cho 5 binh sĩ đến mặt trận, nhưng họ bị hỏa lực địch ngăn chận.

Trời sáng, cả đại đội thám thính bị đẩy lui. Tại thời điểm nầy, tôi được biết các đơn vị tiền phương của chúng tôi đã bị địch tràn ngập.

5 giờ 30 phút sáng. Với sự yểm trợ của tiểu đoàn pháo , bộ binh của chúng tôi mở cuộc tấn công, và trong vòng 30 phút, đã chiếm lại được những vị trí đã mất.

6 giờ. Địch lại mở cuộc tấn công mới. Các đơn vị bộ binh kêu chúng tôi pháo yểm trợ vì có khoảng 500, 600 địch quân tấn công vào phòng tuyến. Các dàn tên lửa của chúng tôi đồng loạt khai hỏa. Có khoảng 100 tên địch bỏ xác.

Tiểu đoàn pháo thứ hai cũng bắt đầu gia nhập mặt trận và tuồn đại pháo vào quân thù.

3 giờ chiều. Quân địch không thể nào tiến gần đến vị trí phòng thủ của chúng tôi.

Một lực lượng tiếp viện của địch đang cố gắn vượt qua sông để tấn công vào cạnh sườn của chúng tôi. Chúng tôi quay nòng súng 10 độ trái, 10 độ phải, khiến địch quân không tiến, không lùi được, đứng tại chỗ làm bia đở đạn và bị tiêu diệt.

Ngày 12-7-1984

Địch quân phản kích

Sau ngày 11-6-1984, chúng tôi học được bài học tại chiến trường. Phân công các đơn vị lai.

Các ống phóng hỏa tiễn do tôi (trung đoàn trưởng) chỉ huy. Pháo 82 do các tiểu đoàn chỉ huy. Đơn vị 100 ly được đào sâu thêm dưới mặt đất, do tôi trực tiếp chỉ huy.

12 trung đội pháo và 4 trung đội xe tăng được tăng cường và phân phối cho các đơn vị. Các đơn vị mới đến được hướng dẫn là phải bắn thẳng vào những khúc đường “độc đạo” chạy theo sườn núi mà chắc chắn là địch sẽ dùng để tiến quân. Các đơn vị thám báo được rải ra trên những khúc đường quanh co khả nghi. Hai trung đội pháo được lịnh bắn thẳng vào những đoạn đường đó để chận địch. 3 trung đội tên lửa đóng ở cao điểm 152 để yểm trợ cho chúng tôi.

Ngày 12-7-1984

Chúng tôi biết được tên của các đơn vị địch quân. Đó là 2 Trung đoàn của sư đoàn 356, 1 trung đoàn của SĐ 316 và 6 trung đoàn độc lập tham gia trận địa. Tổng cộng 9 trung đoàn.

Dự đoán địch quân sẽ tấn công vào lúc 5 giờ sáng, lúc nửa khuya, chúng tôi có gấp 2.5 lần số đạn bình thường, sẵn sàng cho các khẩu pháo.

3 giờ sáng ngày 12-7-1984, Tổng hành dinh cho biết 3 vị trí của địch và ra lịnh khai hoả. Sau tràn pháo dữ dội thứ nhất, tôi hội ý với cấp chỉ huy và cả hai chúng tôi đều đồng ý nhau là địch có thể ở cách chúng tôi khoảng 1,000m. Tôi trình lên Tư lịnh phó xin khai hoả và được chấp thuận. Tôi ra lịnh bắn từng loạt, cách nhau 10 phút. Sau loạt pháo thứ hai, không thấy có gì xảy ra. Tôi ra lịnh bắn hoả châu soi sang cả khu vực. Kết quả không thấy gì. Phí đạn thật.

Lúc đó 3 giờ sáng, nhiều binh lính lăn ra ngủ. Ngay lúc đó, tôi mới khám phá ra rằng địch chỉ cách chúng tôi khoảng 500m.

Chúng tôi lại bắn tối đa vào mục tiêu. Hai tiểu đoàn trưởng địch bị giết tại chỗ, dù không có chỉ huy, nhưng địch vẫn không bỏ vị trí. Những binh lính bị thương cũng không rên rĩ, họ tản thương ngay sau khi hỏa châu vừa tắt. Thật là có kỷ luật.

Ngày 13-7-1984

Lúc 3 giờ sáng, cả địa ngục rung chuyển. Trận đánh lại bùng nổ tại mọi phía. Chúng tôi bắt được một tù binh đầu tiên, qua tù binh, được biết những gì xảy ra trước đó. Đó là, địch quân rất giỏi che dấu tung tích, không dùng truyền tin trước khi tấn công.

Ngay khi bị tấn công, các đơn vị bộ binh xin pháo binh yểm trợ. Tôi lo lắng vì sợ bắn vào đầu quân bạn, nên không yểm trợ.

Bộ chỉ huy ra lịnh khoá phòng tuyến bằng cách bắn vào làn sóng tấn công thứ hai, có thể là những đơn vị lớn cấp trung đoàn.

Các dàn tên lửa của chúng tôi nhả 13 tràng liên tục, ngoài ra, pháo 85mm, 100mm và 152mm cũng tham gia phản kích. Chúng tôi bắn 200 m về phía trước tại 6 điểm hỏa lực, dựng lên một bức tường lửa dày đặc chung quanh tuyến phòng thủ. Rất nhiều địch quân bị giết. Các ống phóng đỏ rực. Trong ngày đó, chúng tôi bắn trên 10,000 quả pháo.

Đến trưa.

Chúng tôi hết đạn. tin nầy làm cho Tư lịnh Yo-Hop không vui, vì 6 trung đoàn địch đang chờ tấn công.

Tôi gọi xin tiếp viện đạn.

Lúc 1 giờ chiều, 470 chiếc xe chở đạn tới.

Quân VN đã chiếm được cao điểm 164, một trong những tiểu đoàn của họ chỉ còn lại 6 người. Sau đợt tấn công 15 phút, chúng tôi chiếm lại được cao điểm 164. Quân VN từ chối rút lui, hết làn sóng nầy đến làn sóng khác tiến lên chiếm lại ngọn đồi. Khi tàn cuộc chiến, đếm được 3,700 xác địch.

Tư lịnh sư đoàn chúng tôi, cựu chiến binh thời nội chiến, phải nói rằng ông chưa bao giờ thấy nhiều xác chết như thế.

Chúng tôi đi thu vũ khí và thắt lưng trên xác địch phát cho binh sĩ. Đêm đó, Bộ chỉ huy trung đoàn hút hết 4 bao thuốc lá và uống hết 4 bình rượu.

Ngày 14-7-1984

Chúng tôi thông báo, cho phép địch quân đi thu xác chết, với những điều kiện:

-         Họ phải mang cờ Hồng Thập Tự

-         Mỗi toán không được quá 50 người.

-         Không được phép mang vũ khí.

Sau đó, một toán khoảng 60, 70 người VN, không có cờ Hồng Thập Tự mà còn mang theo vũ khí, khi biết chúng không tuân theo chỉ thị, chúng tôi khai hỏa giết sạch.

Chúng tôi không quan tâm gì đến sinh mạng của chúng. Không một người nào trong bọn họ còn sống sót.

Trời đang mùa hè, nắng rồi lại mưa, không ai có thể chịu đựng nổi mùi hôi thúi của xác chết, tôi yêu cầu các đơn vị hoá chất đến đốt hết các xác chết bằng súng phun lửa”.

(Trần Trung Đạo dịch từ văn bản tiếng Anh trên trang Web China Defense)

Hiệp định ngừng chiến năm 1990, CSVN đã ký nhượng 600 km2 phần đất Tổ quốc, trong đó có núi Bạc, núi Lão Sơn cho Trung Cộng.

8.2. Tổn thất

Trong Chiến dịch Biên giới 1984-1989, tổn thất hai bên như sau:

Phía Trung Cộng.

-         Bị giết: 939

-         Bị thương: 3,884

Phía Việt Nam

-         Bị giết: 11,700

-         Bị thương: 21,144

-         Bị bắt: 61

·        Đây là tài liệu của Trung Cộng. Vì CSVN giấu nhẹm tin tức về chiến dịch Biên giới 1984-1989.

Nghĩa trang “Liệt Sĩ Việt-Trung”

Ngày 19-2-2009.

Trích:

“Việt gian Cộng Sản hoàn toàn quy phục Tàu Cộng. Các “Nghĩa Trang Liệt Sĩ Trung Cộng” trong chiến tranh Biên giới Việt-Trung được đổi thành “Nghĩa Trang Liệt Sĩ Việt-Trung”. Việc sát nhập lãnh thổ VN vào Trung Cộng quá rõ ràng”. Thật là quá tủi nhục cho các liệt sĩ VN, vì phải ngồi chung bàn thờ với kẻ đã giết chết mình không thương tiếc!.

9* Kết

Cộng Sản VN đã chấp nhận đàm phán song phương tức là chấp nhận thân phận nô lệ cho Trung Cộng, trực tiếp và công khai dâng tài nguyên quốc gia cho ngoại bang, và vận mệnh của đất nước không tránh khỏi một khu tự trị của TC.

Tố Hữu đã nêu cái ý nầy của Đảng CSVN:

“Bên nây biên giới là nhà

Bên kia biên giới cũng là quê hương” (Tố Hữu)

Ngày 24-8-2011, Thượng Nghị Sĩ Jim Webb từ Hoa Kỳ sang VN để cảnh cáo một câu: “Việc tiếp cận song phương sẽ không bao giờ giải quyết được những vấn đề cơ bản về chủ quyền, bởi vì cán cân lực lượng chênh lệch”. Có nghĩa là VN yếu thì phải phục tùng kẻ mạnh. Đó là một sai lầm của VN. Nếu VN chọn giải pháp đa phương, quốc tế hoá, thì VN không còn ở thế yếu nữa.

Nhưng cái máu làm tay sai di truyền cho Trung Cộng khó có thể gột rửa được. Vận mệnh đen tối của dân tộc VN vẫn tồn tại đều do cái đảng mắc dịch nầy cả.

Trung Cộng đã đạt được mục đích, là dùng công hàm bán nước của Phạm Văn Đồng để biến vùng biển thuộc chủ quyền của VN trở thành vùng biển tranh chấp, từ đó, dùng sức mạnh áp chế tên tay sai hèn nhát, để ngang nhiên vào vùng biển của VN mà khai thác tài nguyên.

Một Hiệp ước bất bình đẳng sẽ được ký kết để hợp thức hoá hành động ăn cướp nầy. Và nhà nước CSVN vẫn tiếp tục bưng bít tin tức để che dấu hành động bán nước di truyền nầy.

Trúc Giang.

Người Sưu Tầm

__._,_.___

My Blog List