Hình ảnh nói lên: Sự kiện Tội Ác Việt Cộng ! ! !






https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEj6kLmYKa-hPj1HvFQ9_a90KHJhUV_iUMIMpX4OuUtcp6iY8tidLohE38X7ObP2c42O5V9-qDdwu0FmyTgJjcSZI_uM_-UibAiDC_1ucag_fkHs2pV3BymecImeC0W5_uks9TF3NPCej5k/s1600/babui-danlambao-%C4%90a%CC%82%CC%81t+nu%CC%9Bo%CC%9B%CC%81c+la%CC%80+ca%CC%81i+%C4%91uo%CC%82i+sam1.jpg








Sunday, October 20, 2013

VAI TRÒ DOLLAR QUAN TRỌNG DO ĐỒNG THUẬN QUỐC TẾ


 

 

 

TQ VÔ LỐI ĐÒI THAY THẾ ĐÔ-LA NHÂN SHUTDOWN & TRẦN NỢ HOA KỲ

===================================

 

VAI TRÒ DOLLAR QUAN TRỌNG

DO ĐỒNG THUẬN QUỐC TẾ

 

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

Geneva, 20.10.2011. Cập nhật 20.10.2013


 

Cập nhật 20.10.2013:

Đúng ngày 20.10.2011, nghĩa là cách đây đúng 2 năm, chúng tôi đã viết một bài về vai trò Quốc tế của đồng Đo-la nhân khi có ý kiến muốn thay thế nó.

Mới đây, nhân vụ Shutdown và Trần Nợ Hoa kỳ, Trung quốc lại lên giọng vô lối muốn thay thế đồng Đo-la. Vì vậy, chúng tôi cho đăng lại bài viết này.

Trước đây, TT.De GAULLES cũng đã công kích đồng Đo-la và bị TT.NIXON mắng cho:

“…… TT. NIXON đã trả lời TT.De GAULLES bằng một câu bất hủ: «Đồng Dollar là Tiền của nước Mỹ, còn nếu đồng Tiền của nước ông có những vấn đề, thì đó là những vấn đề của nước ông« !”

 

Từ khi cuộc Khủng hoảng Tài chánh/ Kinh tế Thế giới năm 2008 lan tràn mà nguồn gốc là Tín dụng rởm Địa ốc (Sub-Prime Mortgage Credit) từ Hoa kỳ, một số Chính quyền đã đặt ra vấn đề Ngai vàng Độc tôn Dollar từ Hội Nghị Bretton Woods 1944 đến nay. Thậm chí Trung quốc muốn thay thế đồng Dollar bằng một đồng Tiền quốc tế nào đó phát xuất từ IMF/FMI (Quỹ Tiền Tệ Quốc tế). Một số Chính quyền cũng hùa theo.

Năm nay 2011, Hoa kỳ và Liên Au lại trải qua một cuộc Khủng hoảng Tài chánh nữa: NỢ CÔNG (Sovereign Debt) chất chồng tại Mỹ và nhiều nước thuộc Liên Au. Mấy tháng trước đây, khi Tín dụng Hoa kỳ lần đầu tiên bị mất cấp bậc AAA, tôi xem Đài Truyền Hình Thụy sĩ TRS1 và thấy một bình luận gia gốc Hy Lạp nói rằng Dollar sẽ mất vị trí độc tôn và thêm rằng trong tương lai gần có lẽ phải thay thế vào đó đồng YUAN của Trung quốc ! Nghe và thấy chói tai nghịch lý bởi lẽ Tiết kiệm là Tư hữu tích lũy trong thời gian lâu dài dưới dạng một đồng Tiền, nên đồng Tiền ấy tối thiểu phải là đồng Tiền TỰ DO tôn trọng Tư hữu, đó là đồng Dollar, đồng Euro, đồng Yen hay đồng Franc Thụy sĩ. Nếu thay vào đó bằng đồng Yuan ĐỘC TÀI quyết định tùy ý bởi một Nhà Nước độc tài, thì bố ai dám tích lũy Tư hữu của mình bằng đồng tiền độc tài này để rồi Nhà Nước độc tài kia quyết phá giá làm tiêu tan tài sản tư hữu của mình.

Hôm nay, tôi lại đọc trên Diễn Đàn thấy một bài do một Tiến sĩ Luật sư viết và trình bầy đồng Dollar như một phương tiện áp đặt thống trị, bành trướng của Hoa kỳ lên các nước khác trên Thế giới. Thâm chí Tiến sĩ Luật sư ấy còn coi đồng Dollar từ Hội Nghị Bretton Woods 1944 như nguyên nhân của chiến tranh Irak và cái cớ can thiệp quân sự của Hoa kỳ vào Cách mạng Hoa nhài ở Bắc Phi và Trung Đông. Tôi nhớ lải lời công kích của STALINE đối với đồng Dollar: “IMPERIALISME DU DOLLAR “!

 

Hoa kỳ không độc đoán ấn định Dollar

như “Impérialisme du Dollar“

 

Đọc bài viết của Tiến sĩ Luật sư mà tôi nói ở phần mở đầu làm lý do để tôi viết bài này như góp ý, tôi cảm tưởng Mỹ đã quá lợi dụng đồng Dollar như một phương tiện thống trị Thế giới, thậm chí như nguyên cớ để làm những cuộc chiến tranh từ Irak cho đến can thiệp quân sự tại những quốc gia Bắc phi và Trung Đông hiện nay. Nếu như vậy, thì lời công kích “Impérialisme du Dollar“ của Staline là đúng. 

Thực ra Hội Nghị Bretton-Woods năm 1944 là thiện ý của Hoa kỳ và đồng Dollar được Quốc tế hóa làm phương tiện thanh trả thương mại quốc tế là do các Quốc gia khác chấp nhận chứ không hẳn là Hoa kỳ ấn định Tiền tệ của mình một cách độc đoán theo công kích của Staline.

Năm 1944, cuối Thế chiến thứ II, các đồng Tiền mỗi nước Âu châu đều ở trong chế độ Bản Vị Vàng (Régime ETALON-OR) cũng như đồng Dollar. Tỷ giá giữa các đồng Tiền được định theo lượng Vàng mà mỗi nước có toàn quyền quyết định một cách độc lập:

Tỉ dụ:             

FF.1.-              =          10 gr.or fin                 (FF : Franc Francais )

DM.1.-           =          20 gr.or fin                 (DM : Đức Mã)

Tỷ giá hai đồng Tiền được thiết lập mà không cần qua trung gian đồng Dollar :

                                               20 gr.or fin

            DM.1.-                       =          --------------                  =          FF.2.-

                                               10 gr.or fin

Nhưng Thế chiến thứ II đã làm cho các đồng Tiền Au châu mất hết Vàng bảo chứng cho Tiền tệ. Chỉ có hai đồng Tiền còn Vàng làm bảo chứng, đó là đồng Dollar và đồng FS (Franc Suisse). Chính vì vậy, Hội Nghị Bretton-Woods 1944 là một thiện ý của Hoa kỳ vẫn giữ chế độ Tiền tệ Bản Vị Vàng (Etalon-OR) với Cải Cách là sử dụng đồng Tiền nào còn Vàng bảo chứng để làm trung gian thiết lập Tỷ giá giữa hai đồng Tiền khác. Staline không thể kết án Mỹ là « Impérialisme du Dollar « vì Mỹ để tự do mỗi Quốc gia chọn trung gian là đồng Dollar hay đồng Franc Thụy sĩ vì hai đồng Tiền này còn Vàng bảo chứng. Chế độ Tiền tệ Cải cách này được gọi là « Régime Etalon-DEVISE-Or «. Tiếng DEVISE này có thể là Dollar hay Franc Suisse, nghĩa là « Régime-DOLLAR-Or «  hay  « Régime-FRANC SUISSE-Or« .

Tỉ dụ :

USD.1.- có 40 gr.Or.fin làm bảo chứng, FS.1.- có 20 gr.Or.fin làm bảo chứng. Hai đồng Tiền này có Vàng làm bảo chứng. Còn những đồng Tiền không có Vàng bảo chứng nữa, thì phải định nghĩa tương đương với hai đồng Tiền còn Vàng.

Tỉ dụ :

FF.1.-              =          USD.0.20        hoặc                FF.1.-              =          FS.0.10          

            DM.1-            =          USD.0.30        hoặc                DM.1.-           =          FS.0.15

Tỷ giá giữa DM và FF sẽ là :

                                               USD.0.30                   FS.0.15

            DM.1.-           =          ------------         =          ----------           =          FF.1.5

                                               USD.0.20                   FS.0.10

Lấy đồng Dollar hoặc Franc Suisse là trung gian vì Dollar hoặc Franc Suisse còn Vàng bảo chứng, như vậy Tỷ giá giữa Franc Pháp và Đức Mã không trôi nổi vì có lượng Vàng cố định qua Dollar hoặc qua Franc Suisse cầm cương. Chế độ Bản Vị Cải cách này « Régime Etalon-DEVISE-Or«  từ Hội Nghị Bretton Woods năm 1944 cũng quy định rằng những đồng Tiền còn Vàng bảo chứng và được chọn làm trung gian phải tôn trọng « CONVERTIBILITE «, nghĩa là những đồng Tiền ấy có thể chuyển thành cân lượng Vàng.

Đồng Tiền Franc Suisse có thể đứng ở vị trí trung gian như Dollar để cầm cương cho Tỷ giá giữa hai đồng Tiền khác. Nhưng Thụy sĩ quá nhỏ nên không có khả năng bao trùm lượng tiền trung gian khắp Thế giới. Chính vì vậy các nước khác chọn đồng Dollar chứ không phải Hoa kỳ độc đoán ấn định để Staline công kích là « Impérialisme du Dollar « .

Sau Thế chiến thứ II, Au châu được tái thiết với Chương trình MARSHALL USD.173 Tỉ. Au châu bắt đầu nối lại Thương mại với các cựu Thuộc địa. Thậm chí Pháp còn mang quân đội tái chiếm Đông Dương để đặt ách thống trị trong khi ấy Ong được mệnh danh là « Người Giải Phóng « (Libérateur) Pháp khỏi ách thống trị Đức ! Khi Thương mại với các cựu Thuộc địa phát triển, những nước Au châu lại yêu cầu người mua hàng phải trả bằng đồng Dollar. Đây cũng không phải Hoa kỳ bắt buộc các nước mua hàng phải thanh toán bằng Dollar mà chính các nước Au châu yêu cầu việc thanh trả bằng Dollar.

Thời kỳ sử dụng « Máy Hơi nước «  (Machines à Vapeur) trong kỹ nghệ và vận tải, người ta khai thác Năng lượng Than đá. Nhưng sau Thế chiến thứ hai, đó là Thời kỳ « Máy Nổ «  (Machines à Explosion ) khiến việc khai thác Năng lượng Dầu lửa bùng nổ mạnh.

Au châu phát triển và bán hàng cho các cựu thuộc địa, đã thâu vào được khối lượng Dollar lớn cho mình. Khối lượng Dollar tồn trữ tại Aâu châu được gọi là EURO-DOLLAR. Các nước A-rập bán dầu lửa cũng thâu vào được khối lượng Dollar khổng lồ gọi là PETRO-DOLLAR.

Vào những thập niên 70, có hai biến cố xẩy ra chống lại Hoa kỳ khiến có hai cuộc tiểu chiến tranh Tiền tệ :

*          TT. De GAULLES muốn đi hai hàng : chơi với Khối Cộng sản, nên đã bỏ NATO/ OTAN và yêu cầu Mỹ phải chở Vàng sang đổi lấy Euro-Dollar. Làm như vậy để hài lòng Mạc Tư Khoa.

*          Khối A-rập, vì Hoa kỳ ủng hộ Do Thái trong chiến tranh 1967, nên muốn phản ứng lại là yêu cầu Hoa kỳ chở Vàng sang đổi lấy Pétro-Dollar.

Cả hai cuộc tiểu chiến tranh Tiền tệ này đều dựa trên khẳng định « CONVERTIBILITE «  của Dollar lấy Vàng từ Hội Nghị Bretton-Woods. Nhưng làm sao Hoa kỳ có đủ lượng Vàng theo định nghĩa từ năm 1944 để chở sang Pháp và cho Khối A-rập !  Chính vì vậy mà năm 1971, TT. NIXON tuyên bố bỏ Chế độ Bản Vị « Etalon-Devise (Dollar)-Or«, không chấp nhận vấn đề Chuyển đổi Dollar sang Vàng nữa (Convertibilité). TT. NIXON đã trả lời TT.De GAULLES bằng một câu bất hủ : « Đồng Dollar là Tiền của nước Mỹ, còn nếu đồng Tiền của nước ông có những vấn đề, thì đó là những vấn đề của nước ông«!

Tỷ giá Tiền tệ bắt đầu Trôi Nổi (Flottant) vì không có Vàng bảo chứng cầm cương. Tiền tệ Thế giới đi vào Chế độ Bản Vị Tương đương Hàng hóa (Régime du Pouvoir d’Achat) tùy thuộc Kinh tế mỗi nước khi lên khi xuống. Tiền tệ của một nước vững khi nền Kinh tế của nước đó vững. Kinh tế Hoa kỳ vẫn vững, nên đồng Dollar vẫn vững dù không cần Vàng bảo chứng.

Trong Chế độ Bản Vị lấy Vàng bảo chứng Régime Etalon-Or hay Etalon-Devise-Or, đồng Dollar đã được cả Thế giới sử dụng trong thanh toán Thương mại. Bây giờ trong Chế độ Régime du Pouvoir d’Achat, đồng Dollar vẫn vững và được Thế giới sử dụng vì Kinh tế Hoa kỳ vững.

Đồng Dollar vững và phổ quát, nên các nước chọn Dự trữ Tiền tệ chính là đồng Dollar trong các Ngân Hàng. Hoa kỳ không bao giờ bắt buộc một Quốc gia phải chọn đồng Dollar làm Tiền Dự trữ. Tỉ dụ Việt Nam có toàn quyền quyết định chọn đồng Yuan độc tài của Chệt làm Tiền Dự trữ, nhưng nếu Bắc Kinh độc đoán quyết định cho gía trị của đồng Yuan sau này, thì Việt Nam ráng mà chịu. Ngay cả Tầu cũng không tin tưởng vào đồng Yuan độc tài, mà phải chọn Dollar làm Tiền Dự trữ.

 

Quỹ Tiền Tệ Quốc tế (FMI/IMF)

 

Quỹ này được lập ra từ Hội Nghị Bretton-Woods 1944 với mục đích là hỗ trợ Tiền tệ cho những Hội viên (Quốc gia) khi đồng Tiền của quốc gia này chao động và yếu xuống. Có thể gọi đó là một thứ Quỹ Tương tế Tiền tệ (Caisse d’Entraide Monétaire) giữa các Hội viên. Mỗi nước tùy khả năng đóng góp vào Quỹ. Hoa kỳ đóng góp tới 70%. Đây cũng là thiện chí của Hoa kỳ.

Sau đó, số Hội viên của Quỹ tăng lên. Trong số những Hội viên, có những nước không đóng góp, mà chỉ nhằm xin hỗ trợ. Nếu xin vay, thì một số nước Hội viên nhỏ này cũng quỵt nợ luôn. Một số nước nhỏ Hội viên thuộc Nam Mỹ hoặc Phi châu, khi nhận được Xe xúc Tuyết từ Liên Xô để  hốt tuyết tại Sa mạc Sahara, thì lớn tiếng ca tụng tình hữu nghị đồng chí Liên Xô, trong khi ấy lại muốn nhận được Tiền giúp đỡ từ Quỹ IMF/FMI mà Hoa kỳ đóng góp tới 70%, thì lại theo tuyên truyền « Cách Mạng Giải Phóng «  chống lại Hoa kỳ « Impérialisme du Dollar« , nên Hoa kỳ khó chịu đóng tiền ít đi vào cho Quỹ.

Ý tưởng Quỹ giúp Phát triển Kinh tế các nước kém mở mang chưa có từ lúc ban đầu ở Hội Nghị Bretton-Woods 1944.

Nếu viết về đồng Dollar và Hội Nghị Bretton-Woods 1944 trong ý tưởng « Impérialisme du Dollar «  mà Staline công kích, nhất là cắt nghĩa Dollar như một trong những nguyên cớ chiến tranh, thì có thể xa với thiện chí của Hoa kỳ về Tiền tệ.

Một trong những cá tính căn bản của Tiền tệ là TỰ DO chấp nhận. Đó là tính UNIVERSALITE (PHỔ QUÁT) của tiền tệ, nghĩa là nhiều người chấp nhận. Tiền được sử dụng để TÍCH LUỸ (Stockage) tư hữu tài sản trong thời gian, phải có quyết định tự do của sở hữu chủ tài sản.  Không thể dùng quyền độc tài bắt cá nhân phải tích lũy tài sản bằng đồng YUAN hay VN ĐỒNG bởi vì hai đồng tiền này không có tự do và quyền lực độc tài có thể quyết định phá giá nó để tài sản cá nhân bị tiêu tán, vô giá trị trong thời gian.

Mỗi khi có chao động Tiền tệ là những người ta tìm đến Vàng hay một đồng Tiền vững có thể tin tưởng trong thời gian. Vàng từ thời thượng cổ cho đến nay luôn luôn vững với cân lượng của nó. Vàng hoàn toàn có tính cách UNIVERSALITE (PHỔ QUÁT) không những trong quá khứ mà còn trong tương lai lâu dài nữa. Vàng càng phổ quát hơn đối với Nữ Giới, những người giữ túi Tiền. Câu Tục ngữ : « Lấy Lửa thử Vàng ; lấy Vàng thử Đàn Bà ; lấy Đàn Bà thử Đàn Oâng « . Đến Oâng Dominique STRAUSS-KAHN, làm đến chức Tổng Giám Đốc IMF/FMI do Hội Nghị Bretton Woods 1944 lập ra, cũng còn bị thử thách chới với bởi Đàn Bà, mà người Đàn Bà tại Hotel thử thách Ong cũng chỉ vì nhìn qua Oâng thấy Dollar (Vàng) !

 

Giáo sư Tiến sĩ NGUYỄN PHÚC LIÊN, Kinh tế

Geneva, 20.10.2011. Cập nhật 20.10.2013


 

 

 

Trung Quốc sợ Mỹ vỡ nợ

Phó tổng thống Mỹ Joe Biden phát biểu trong ngày khai mạc Đối thoại Kinh tế Chiến lược Mỹ Trung 10/7/2013. Ngồi bên là phó thủ tướng Trung Quốc Uông Dương.

Phó tổng thống Mỹ Joe Biden phát biểu trong ngày khai mạc Đối thoại Kinh tế Chiến lược Mỹ Trung 10/7/2013. Ngồi bên là phó thủ tướng Trung Quốc Uông Dương.

REUTERS/Yuri Gripas

Tú Anh        


Tân Hoa xã của Trung Quốc kêu gọi xây dựng « một thế giới phi Mỹ hóa » trong bối cảnh cuộc đọ sức giữa hành pháp và lập pháp Mỹ đe dọa khả năng chi trả nợ công của Hoa Kỳ. Hãng thông tấn của nhà nước Trung Quốc vừa bất bình thái độ « vô tâm » của chính trị gia Mỹ vừa lo ngại kinh tế Hoa lục bị tác hại dây chuyền.


Hôm nay 13/10/2013, trong một bài bình luận hết sức chua chát , Tân Hoa xã lên án giới chính trị Hoa Kỳ là « đạo đức giả , không tìm được một thỏa thuận để cho guồng máy nhà nước mà họ rất hãnh điện được hoạt động bình thường ». Cơ quan thông tấn chính thức của Trung Quốc cho rằng đã đến lúc hành tinh này phải tìm cách xây dựng một thế giới mới « phi Mỹ hóa », một trật tự mới cho phép « quyền lợi mọi quốc gia được tôn trọng và bảo vệ một cách bình đẳng ».

Do khủng hoảng ngân sách kéo dài, cơ quan liên bang bị tê liệt, nếu hành pháp và lập pháp Mỹ không tìm được đồng thuận thì đến ngày 17/10, Hoa Kỳ có thể tuyên bố hết khả năng trả nợ.

Theo AFP, Từ nhiều ngày qua, Bắc Kinh liên tục đưa ra những lời kêu gọi chính giới Cộng hòa và Dân chủ Mỹ thỏa hiệp cũng như nhắc chừng Hoa Kỳ đừng quên quyền lợi của Trung Quốc vì hai nền kinh tế « không thể tách rời ».

Phản ứng của Tân hoa xã cho thấy Bắc Kinh rất lo ngại tác động dây chuyền. Cường quốc kinh tế thứ hai thế giới là chủ nợ chính của Mỹ với 1.277 tỷ đôla bằng công trái phiếu. Bài bình luận của Tân hoa xã nhấn mạnh đến hệ quả của bế tắc ngân sách tại Mỹ « đe dọa trữ lượng ngoại tệ bằng đô la của nhiều quốc gia và gây hoang mang cho cộng đồng quốc tế ».

Tân Hoa xã kêu gọi « tạo ra một đơn vị tiền tệ mới thay thế đô la » và không bỏ lở cơ hội công kích Hoa Kỳ trên hồ sơ biển Đông : Thay vì giữ lời cam kết của siêu cường lãnh đạo thế giới , Washington chỉ nghĩ đến quyền lợi riêng, lạm dụng chức năng siêu cường vừa để gây bất ổn tài chính trên thế giới vừa kích động tranh chấp lãnh thổ và tiến hành chiến tranh không lý do chính đáng.

 

 

 

Tín dụng đen VN 'là do ngân hàng yếu'





Mafia nằm trong NHNN.




Tín dụng đen VN 'là do ngân hàng yếu'

Cập nhật: 15:21 GMT - thứ sáu, 18 tháng 10, 2013


Tín dụng đen

Ý kiến chuyên gia nói VN cần soạn luật kiểm soát cho vay nặng lãi

'Tín dụng đen' phát triển chiếm tới 30% so với tín dụng chính thức, trách nhiệm nằm ở cung cách điều hành, quản lý Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, theo nhận định của chuyên gia trong nước.

Hôm 18/10/2013, chuyên gia tài chính Bùi Kiến Thành nói với BBC mặc dù chưa rõ cơ sở chắc chắn của quy mô tín dụng đen ở Việt Nam được cho là lên tới 50 tỷ USD, theo truyền thông trong nước, xu hướng phát triển của tín dụng đen đã được nhận biết từ lâu.

Các bài liên quan


Chủ đề liên quan


Ông Thành cũng nhận xét không chỉ tín dụng đen mà nhiều ngân hàng ở Việt Nam cũng đang tiến hành cho vay theo cung cách của 'tín dụng đen' khi sử dụng tới hai tỷ lệ lãi suất khác nhau cho cùng một khoản vay là 'công khai' và 'dưới gầm bàn' hoặc 'lót tay' tham nhũng.

Nhân dịp này, ông Bùi Kiến Thành lên tiếng cảnh báo một lần nữa về yếu kém trong vai trò của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam quản lý lãi suất cho vay ở hệ thống các ngân hàng thương mại và việc lỏng lẻo trong hệ thống luật quản lý trần lãi suất cho vay để kiểm soát lãi suất và hoạt động cho vay bất hợp lý tới mức phá hoại nền kinh tế.


Trước hết về giải pháp quản lý cho vay nặng lãi, ông Bùi Kiến Thành đặt vấn đề cần soạn thảo thêm luật nhằm hạn chế mức tối đa của nạn cho vay nặng lãi.

"Có thể với các nước khác trên thế giới, người ta có một đạo luật gọi là cho vay nặng lãi, thí dụ như bên Pháp, hay các tiểu bang của Mỹ đều có luật về cho vay nặng lãi,

"Để làm sao tới mức nào đó thì người ta có thể chịu đựng được, qua mức nào đấy thành mức sát hại người ta rồi."

Tuy nhiên theo chuyên gia tài chính này, một vấn đề tiếp theo là có luật rồi thì việc tôn trọng luật và khả năng áp dụng ra sao lại là một vấn đề khác.

Hôm 15/10, chuyên mục kinh tế trên trang mạng VTC News của Việt Nam cho rằng tỷ lệ tín dụng đen hay tín dụng phi chính thức trên thị trường cho vay trong nước đang ở mức độ 'quá lớn'.

VTC News trích dẫn số liệu mà một hội thảo về cải cách thị trường tài chính ở Việt Nam nói:

"Theo ước tính, cho vay ngoài hệ thống hay còn gọi là “tín dụng đen” hiện đang bằng khoảng 30% tổng tín dụng thực do hệ thống ngân hàng cung cấp...

"Đôi khi người ta cần những món tiền nhỏ thôi, thí dụ như khoảng 1-2 triệu đồng, thì người ta không thể tới ngân hàng để làm thủ tục vay được, cho nên người ta cần tới các dịch vụ tín dụng ngoài ngân hàng"

Nhà tư vấn tài chính doanh nghiệp vừa và nhỏ

"So với tín dụng chính thức, quy mô tín dụng đen ở Việt Nam rơi vào con số khoảng 50 tỷ USD, là một con số quá lớn."

Tờ này dẫn ý kiến của Tiến sỹ Võ Trí Thành, Phó Viện trưởng Viện Quản lý Kinh tế Trung ương (CIEM) nhận định đây là một mức độ có thể gây 'tác động tiêu cực đến kinh tế - xã hội."

'Khi nào chấm dứt?'

Trao đổi với BBC từ An Giang, một nhà tư vấn tài chính cho doanh nghiệp vừa và nhỏ, ông Đinh Xuân Hòa, cựu thành viên Trung tâm Nghiên cứu và Đào tạo Kinh tế ứng dụng, thuộc Đại học Tôn Đức Thắng, phân tích từ góc độ vi mô nguyên nhân của hiện tượng tín dụng đen.

Ông nói: "Vì sao tín dụng đen phát triển thứ nhất là vì thủ tục cho vay tại ngân hàng của Việt Nam quá phức tạp đối với người dân, không phải ai cũng biết hết về các thủ tục để hoàn thành.

"Thứ hai, nhiều khi người ta cần tiền gấp, đối với ngân hàng, người ta cần một khoảng thời gian chờ đợi để chờ đợi giải ngân,

"Thứ ba, đó là thói quen của người dân, đôi khi người ta cần những món tiền nhỏ thôi, thí dụ như khoảng 1-2 triệu đồng, thì người ta không thể tới ngân hàng để làm thủ tục vay được, cho nên người ta cần tới các dịch vụ tín dụng ngoài ngân hàng như tiệm cầm đồ, hoặc là tín dụng đen, hay là chơi họ hụi."

Theo ông Hòa, để kiểm soát tốt hơn các nguy cơ của nạn tín dụng đen, các nhà quản lý cần có các biện pháp cải thiện dịch vụ cho vay của ngân hàng, hợp lý hóa chi phí vận hành, tinh giản, gọn nhẹ, đồng thời nâng cao năng lực của cán bộ tín dụng và nỗ lực làm cho dịch vụ và các sản phẩm ngân hàng thân thiện hơn với người dân.


"Bây giờ trong hệ thống ngân hàng Việt Nam, nó như một tiệm cầm đồ, mà thực sự có nhiều ngân hàng hoạt động như một tín dụng đen"

Chuyên gia Bùi Kiến Thành

Đồng thời theo ý kiến quan sát này, chính quyền cần có các nỗ lực nhằm "rà soát, kiểm soát chặt chẽ và liên tục hơn" các hoạt động, dịch vụ và đối tượng cho vay nặng lãi nhằm ngăn ngừa những hành vi "vi phạm pháp luật", "xã hội đen" và nạn "bạo hành đòi nợ" trên thị trường.

Hôm thứ Ba, tờ báo mạng VTC News nêu ý kiến của TS Nguyễn Đức Thành thuộc Đại học Kinh tế, Đại học Quốc gia Hà Nội về giải pháp với nạn tín dụng đen.

"Để hạn chế quy mô thị trường tín dụng đen, ngân hàng phải rút ngắn chi phí, tăng hiệu quả trong hoạt động cho vay và bộ phận giám sát rủi ro cảu ngân hàng phải hoạt động tích cực," TS Thành được trích dẫn nói.

Còn chuyên gia Bùi Kiến Thành nhận định với BBC về điều kiện khi nào nạn tín dụng đen có thể chấm dứt.

Ông nói: "Nó sẽ kéo dài tới khi nào hệ thống ngân hàng tín dụng chính thức hoạt động tốt hơn và người dân có thể tiếp cận tín dụng qua ngân hàng hay qua các quỹ tiết kiệm nhân dân hợp lý hơn với lãi suất chấp nhận được,

"Trước hết, phải làm sạch hệ thống ngân hàng Việt Nam trước, làm sao quản lý vấn đề áp dụng luật pháp tốt, tới khi hệ thống ngân hàng phát triển tốt lên rồi, mọi người sẽ thấy không cần phải đi đến tín dụng đen nữa, thì lúc đó, nó sẽ tự động biến dần dần đi."

Nhân dịp này, ông Bùi Kiến Thành cũng lên tiếng về bất hợp lý hoạt động cho vay ở chính hệ thống ngân hàng thương mại và tín dụng trong nước.

Ông nói: "Bây giờ trong hệ thống ngân hàng Việt Nam, nó như một tiệm cầm đồ, mà thực sự có nhiều ngân hàng hoạt động như một tín dụng đen,

"Tại vì lãi suất chính thức trên hợp đồng khác, mà lãi suất ở dưới bàn nó lại khác, lại còn có phong bao, phong bì cho cán bộ ngân hàng người ta phê duyệt, cái đó khác.

Theo chuyên gia tài chính này, cộng lại các khoản chi phí thực tế, lãi suất đi vay ngân hàng năm vừa qua lại tổng cộng "cũng lên tới hơn ba chục phần trăm."


__._,_.___

Saturday, October 19, 2013

Quan hệ Việt Trung thời kỳ mới: mừng ít lo nhiều


 


Quan hệ Việt Trung thời kỳ mới: mừng ít lo nhiều


Nam Nguyên, phóng viên RFA
2013-10-18

 

Email

Ý kiến của Bạn

Chia sẻ

In trang này


namnguyen10182013.mp3Phần âm thanh Tải xuống âm thanh

000_Hkg9095445-305.jpg

Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường (trái) cùng Chủ tịch Việt Nam Trương Tấn Sang tại Hà Nội ngày 14 Tháng 10 năm 2013.

AFP PHOTO

 

Chuyên gia phản ứng khá thận trọng, nếu không muốn nói là đầy hoài nghi đối với quan hệ Việt-Trung thời kỳ mới, qua Tuyên bố chung 10 điểm ngày 15/10 tại Hà Nội kết thúc chuyến thăm của Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường.

Sử dụng chiến thuật


Hầu hết báo chí do Chính phủ kiểm soát đều đưa tin lớn về những thỏa thuận được cho là, mang tính cách mở rộng hợp tác kinh tế thương mại cùng lúc hạ nhiệt tranh chấp chủ quyền giữa Trung Quốc và Việt Nam. Tuyên bố chung Lý Khắc Cường-Nguyễn Tấn Dũng đã nhấn mạnh nguyên tắc giải quyết tranh chấp trên biển Việt-Trung với những lời lẽ đầy tinh thần tôn trọng luật pháp quốc tế, tuân thủ tinh thần Công ước Quốc tế về Luật Biển hoặc tinh thần Tuyên bố ứng xử của các bên trên Biển Đông COC.

Về vấn đề vừa nêu, GSTS Nguyễn Thế Hùng nhà hoạt động xã hội dân sự, đồng sáng lập trang mạng Bauxite Việt Nam từ Đà Nẵng nhận định,  đối với chính sách của Trung Quốc, Việt Nam luôn luôn phải nghi ngờ thiện chí của họ nhất là trong tình hình hiện nay. Việt Nam chẳng là gì dưới mắt Trung Quốc, theo ông Việt Nam phải hiểu rõ điều này và cần khôn khéo thể hiện đại đoàn kết dân tộc, phải theo thể chế dân chủ để đất nước hùng mạnh thì mới có thể sinh tồn bên cạnh Trung Quốc. GSTS Nguyễn Thế Hùng nhấn mạnh:

Không phải họ mềm dẻo xuống thang hoặc tôn trọng vấn đề luật pháp quốc tế đối với VN, mà họ đang sử dụng chiến thuật trong lúc phải đối phó Nhật Bản và Philippines.
-GS Nguyễn Thế Hùng

“Theo tôi không phải họ mềm dẻo xuống thang hoặc tôn trọng vấn đề luật pháp quốc tế đối với Việt Nam, mà họ đang sử dụng chiến thuật trong lúc phải đối phó Nhật Bản và Philippines, hoặc để cho thế giới không thấy được dã tâm của họ. Chiến lược cuối cùng của họ là khuất phục Việt Nam, làm cho Việt Nam suy yếu để đạt mục đích cuối cùng là lái Việt Nam đi theo hướng của họ chứ không thực sự ích lợi cho Việt Nam.”

Về quan hệ thương mại kinh tế, theo tuyên bố chung, Trung Quốc hứa huy động vốn cho Việt Nam phát triển nhiều dự án khu công nghiệp và các tuyến giao thông trọng yếu nối vùng biên giới Trung Quốc với Hà Nội; thúc đẩy doanh nghiệp hai bên đầu tư qua biên giới. Hai Thủ tướng Trung Quốc và Việt Nam hứa hẹn hoàn thành trước thời hạn mục tiêu đến năm 2015 kim ngạch thương mại hai chiều đạt 60 tỷ USD.

Đáp câu hỏi của chúng tôi là Việt Nam luôn nhập siêu từ Trung Quốc hơn chục tỷ USD mỗi năm, vậy làm sao có thể cân bằng thương mại song phương lại vừa nâng kim ngạch ở mức lớn lao như vậy. Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan từ Hà Nội nhận định:

“Riêng về thương mại tôi nói thật, mỗi khi lãnh đạo hai bên gặp nhau cứ hứa hẹn đẩy kim ngạch thương mại lên bao nhiêu…bao nhiêu, kể cả phía Trung Quốc hứa hẹn tăng cường nhập khẩu từ Việt Nam thì vẫn làm cho tôi thấy lo nhiều hơn là mừng. Tại sao vậy, bởi vì lâu nay Việt Nam chủ yếu là nhập siêu từ Trung Quốc và mức nhập siêu càng ngày càng lớn càng nặng nề. Kể cả trong mấy năm gần đây khi mà kinh tế khó khăn, nhập khẩu của Việt Nam giảm xuống, thậm chí có năm Việt Nam còn xuất siêu được vài trăm triệu đô la nhưng vẫn nhập siêu từ Trung Quốc như thường và số tiền nhập siêu từ Trung Quốc vẫn rất lớn. Như vậy chứng tỏ cải thiện kim ngạch rất khó.”

Lo nhiều hơn mừng


000_Del6255742-250.jpg

Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường và Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng thảo luận tại Hà Nội ngày 13 tháng 10 năm 2013. AFP PHOTO.

Chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan tỏ ra thận trọng về khả năng Trung Quốc gia tăng nhập khẩu hàng hóa từ Việt Nam. Bà nói:

“Ngay cả khi Trung Quốc hứa hẹn tăng cường nhập khẩu từ Việt Nam, để cho Việt Nam cải thiện cán cân thanh toán với Trung Quốc thì tôi vẫn lo. Bởi vì  Trung Quốc chủ yếu muốn mua hàng nguyên liệu thô của Việt Nam, nào là khoáng sản đào bới tài nguyên thiên nhiên lên để bán cho họ như là bauxite chẳng hạn hay là các khoáng sản khác. Rất nhiều thứ khoáng sản của Việt Nam đã được khai thác và xuất thô sang Trung Quốc rồi, làm cho nguồn tài nguyên khoáng sản của Việt Nam cạn kiệt rất nhanh. Tuy Trung Quốc cũng mua một số mặt hàng khác như nông sản nhưng chủ yếu cũng là hàng thô chưa qua chế biến; riêng cách mua nông sản không những làm cho Việt Nam thiệt thòi mà nhiều khi còn gây khó bằng cách là, có khi họ đưa giá lên rất cao mua ào ạt, rồi đùng một cái dừng lại không mua tiếp nữa, làm cho nông dân khi lỡ sản xuất ra rồi không làm thế nào được. Thế rồi những thủ tục khó khăn tạo ra ở biên giới, như là thanh long hiện nay đang đọng lại ở biên giới chẳng hạn,  là những cách gây khó cho nông sản Việt Nam.”

Bà Phạm Chi Lan lý giải thêm về lý do bà cảm thấy lo nhiều hơn mừng, khi hai phía Việt Nam và Trung Quốc thỏa thuận mở rộng hợp tác thương mại. Bà nói:

Nghe hai bên cam kết sớm đạt được mức kim ngạch 60 tỷ USD, thực sự tôi không cảm thấy mừng mà thậm chí còn cảm thấy lo.
-Bà Phạm Chi Lan

“Dù có tuyên bố tăng cường nhập khẩu nhưng điều đó chưa chắc có thể tạo khả năng xuất khẩu trả nợ cho Việt Nam sang Trung Quốc, từ đó có thể giúp cải thiện được cán cân thanh toán. Cho nên nói lên một con số thì dễ, nói lên ý chí hoặc mong muốn của hai bên thì dễ, nhưng mà cách thức thực hiện như thế nào và đàng sau nó là tất cả những biện pháp như thế nào để tạo được một cán cân thực sự mang lại lợi ích cho cả hai bên, thì đấy là điều hoàn toàn không dễ một chút nào cả. Bởi vì vẫn còn thấy thiếu vắng những biện pháp cụ thể và về phía Việt Nam đã thấy trong bao nhiêu năm rồi, với bao nhiêu cam kết hứa hẹn về chính trị rồi mà quan hệ thương mại luôn luôn mang tới bất lợi cho phía Việt Nam. Vì vậy cho nên nghe hai bên cam kết sớm đạt được mức kim ngạch 60 tỷ USD, thực sự tôi không cảm thấy mừng mà thậm chí còn cảm thấy lo.”

Bên cạnh vấn đề kinh tế thương mại, Tuyên bố chung Việt Nam-Trung Quốc thời kỳ mới còn nhấn mạnh việc ‘tăng cường định hướng đúng đắn báo chí và dư luận…góp phần quan trọng cho việc tăng cường sự tin cậy giữa hai bên. Nhận định về vấn đề này, GSTS Nguyễn Thế Hùng phát biểu:

“Trung Quốc thường nói một đàng làm một nẻo, họ bảo là định hướng nhưng cuối cùng nhiều lúc họ bật đèn xanh hoặc họ không chấn chỉnh. Khi mình phản ảnh thì họ đổ lỗi này kia trong khi Việt Nam nghiêm túc thực hiện, như vậy nó không có công bằng. Đối với Việt Nam những gì Trung Quốc họ làm không đúng với luật lệ quốc tế…thì phải để cho nhân dân người ta bày tỏ, để cho báo chí chính thống bày tỏ để tạo dư luận trong nước và quốc tế thì như vậy người Trung Quốc mới bớt chuyện làm không đứng đắn của họ lại. Chứ đàng này, mình không để cho báo chí chính thống, không để cho người dân bày tỏ trên những blog của họ, không để cho người dân đi biểu tình ôn hòa, như vậy mình không tạo được sự đồng thuận nhân dân, không tạo được sức ép lên dư luận trong nước và quốc tế, lại mất đi một lực lượng ủng hộ chính quyền thì rất là dở.”

Chuyến đi của Thủ tướng Trung Quốc Lý Khắc Cường tới Việt Nam còn đạt kết quả Việt Nam ký kết văn kiện đồng ý thiết lập Viện Khổng Tử tại Đại học Quốc gia Hà Nội. Dư luận cho rằng, bề ngoài của một Viện Khổng Tử mang tính cách một Trung tâm truyền bá và quảng cáo văn hóa Trung Quốc. Nhưng theo TS Hán Nôm Nguyễn Xuân Diện viết trên Blog của ông: “Phải thừa nhận hiện nay giới lãnh đạo về vắn hóa của Việt Nam có một sự hiểu biết rất hạn chế về văn hóa của Trung Quốc. Mà việc tuyên truyền, gây sức ép cũng như ảnh hưởng của văn hóa Trung Quốc lên Việt Nam là quá mạnh.” TS Nguyễn Xuân Diện lập lại sự quan ngại của ông qua phát biểu với Đài Á châu Tự Do. Vì âm thanh không được tốt, chúng tôi xin trích đọc nguyên văn lời TS Nguyễn Xuân Diện.

“Vì vậy, để những học viện Khổng Tử như thế tồn tại ở Việt Nam đòi hỏi những nhà lãnh đạo về tư tưởng văn hóa phải có sự hiểu biết sâu sắc, một bản lĩnh vững vàng. Nếu không, nó sẽ là cuộc xâm lăng về mặt văn hóa hay gọi là “quyền lực mềm” sẽ bị áp đặt tại Việt Nam. Lúc ấy, chúng ta sẽ không thể nào chống lại được. Văn hóa là nền tảng của đất nước, một khi văn hóa bị thuần hóa thì đó là một điều nguy hiểm.”

Quan hệ đối tác chiến lược toàn diện Việt-Trung được mở rộng trong thời kỳ mới, qua chuyến đi của Thủ tướng Lý Khắc Cường tới Hà Nội quả là ẩn chứa rất nhiều điều, làm cho các chuyên gia kinh tế, chuyên gia văn hóa và các nhà hoạt động dân sự đầy quan ngại. Đúng là chưa mừng đã vội lo.

My Blog List