Hình ảnh nói lên: Sự kiện Tội Ác Việt Cộng ! ! !






https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEj6kLmYKa-hPj1HvFQ9_a90KHJhUV_iUMIMpX4OuUtcp6iY8tidLohE38X7ObP2c42O5V9-qDdwu0FmyTgJjcSZI_uM_-UibAiDC_1ucag_fkHs2pV3BymecImeC0W5_uks9TF3NPCej5k/s1600/babui-danlambao-%C4%90a%CC%82%CC%81t+nu%CC%9Bo%CC%9B%CC%81c+la%CC%80+ca%CC%81i+%C4%91uo%CC%82i+sam1.jpg








Thursday, January 2, 2014

CSVN lừa đảo “Cứu nước” để “Xâm lăng miền Nam” rồi “Bán nước” cho Tàu

 

CSVN lừa đảo “Cứu nước” để “Xâm lăng miền Nam” rồi “Bán nước” cho Tàu

Written by Giáo Già
Ngày 30 tháng 4 năm 2013

H,

Ðọc lại “Cổ Học Tinh Hoa” của Nguyễn Văn Ngọc và Trần Lê Nhân, Giáo Già ghi nhận chuyện “Tăng Sâm Giết Người” có giá trị biểu tượng như sau: 
.

“Ông Tăng Sâm ở đất Phi, ở đấy có kẻ trùng danh với ông giết chết người.

Một người hớt hải chạy đến báo mẹ ông Tăng Sâm rằng: “Tăng Sâm giết người ”. Bà mẹ nói : “Chẳng khi nào con ta lại giết người”. Rồi bà điềm nhiên ngồi dệt cửi.

Một lúc lại có người đến bảo:“Tăng Sâm giết người”. Bà mẹ không nói gì, cứ điềm nhiên dệt cửi .

Một lúc lại có người đến bảo: “Tăng Sâm giết người” Bà mẹ sợ cuống, quăng thoi, trèo qua tường chạy trốn”.


Sách “Cổ Học Tinh Hoa” có Lời Bàn như sau:


“Tăng Sâm vốn là người hiền hậu, hiếu thảo, bà mẹ vốn là người trung tín, một bụng tin con. Thốt nhiên có kẻ bảo: “Tăng Sâm giết người”. Bà mẹ không tin, và người thứ hai bảo, còn chưa tin; đến người thứ ba bảo, thì cuống cuồng chạy trốn. Như thế mới hay cái dư luận của thiên hạ rất là mạnh. Một việc, dù cho sai lầm đến mười mươi, nhiều người đã có cùng một nghị luận đều như thế cả, thì cũng dễ khiến người ta nghi nghi hoặc hoặc rồi đem bụng tin mà cho là phải, nom đỉa hóa ra con rươi, trông con chó thành con cừu. Ðến như giữa chợ, làm gì có cọp! Thế mà một người, hai người, đến ba người nói có cọp, thiên hạ cũng tin có cọp thật nữa là! Những bậc ra được ngoài vòng dư luận, giữ vững được bụng như cây giữa rừng, như kiềng ba chân rất là hiếm, nhưng có thế được mới cao. Một chân lý có chứng minh rõ ràng, mười phần chắc chắn, thì mới nên công nhận”.
Từ chuyện “Tăng Sâm Giết Người” Giáo Già nghĩ ngay đến xảo thuật tuyên truyền của Cộng sản Việt Nam trong cuộc chiến “Xâm Lăng Miền Nam Việt Nam”, kết thúc 38 năm trước, tức ngày 30/4/1975, mà dư luận, từ Việt Nam đến quốc tế, đều bị đánh lừa là “Chống Mỹ Cứu Nước”.

Cho đến nay trò lừa này vẫn được chúng tiếp diễn, cho dầu sự thực đã được phơi bày đến độ trắng trợn. Xin đơn cử một thí dụ điển hình bằng chính chứng liệu do chúng công bố. Ðó là trên báo Tuổi Trẻ của chúng, ra ngày 18/04/2013, đăng bài “Công Bố Sách Lịch Sử Chống Mỹ Cứu Nước” như sau:

.

“Bộ sách Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975) vừa được công bố chính thức tại TP.HCM vào sáng 17-4 trong buổi công bố do NXB Chính Trị Quốc Gia - Sự Thật cùng với Ban Tuyên giáo trung ương, Thành ủy TP.HCM và Viện Lịch sử quân sự VN phối hợp tổ chức [Xem hình Bộ sách Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước trưng bày tại buổi công bố - Ảnh: L.Ðiền]. Ðây là bộ sách xuất phát từ bộ Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975) xuất bản từ năm 1990-1991 do Viện Lịch sử quân sự biên soạn, nhưng chủ yếu phục vụ nghiên cứu, giảng dạy ở các học viện, các trường sĩ quan trong Quân đội nhân dân VN. Sau đó từ năm 1995-2012, Viện Lịch sử quân sự đã biên soạn bộ mới gồm chín tập, đã được NXB Chính Trị Quốc Gia lần này phổ biến rộng rãi trong cả nước”.

CSVN đâu có chống Mỹ cứu nước. Sáng ngày 30/4/1975 viên sĩ quan Cộng sản Bắc Việt Phạm Xuân Thệ vào dinh Ðộc Lập thúc ép Ðại tướng Dương Văn Minh đến đài phát thanh Sài Gòn tuyên bố đầu hàng đã phô bày trắng trợn thực tế xâm lăng Miền Nam Việt Nam của Cộng sản Bắc Việt chớ có chống người Mỹ nào để cứu nước đâu. Chuyện chống Mỹ cứu nước chỉ là một trò lừa, lộng giã thành chơn, như nói chuyện Tăng Sâm giết người. Vậy mà cho tới nay Việt cộng vẫn tiếp tục lừa, lừa dư luận và lừa chính chúng, tiếp tục viết sách và in sách lừa đảo sự thật.

Ðể vạch mặt trò lừa đảo này, nhìn vào lịch sử cuộc chiến, với trận chiến khốc liệt kết thúc ngày 30/4/1975, nhìn vào từng diễn biến của từng sự việc hầu như ai cũng thấy, nhưng có điều rất đau lòng là không có mấy người chịu phơi bày sự thật cho dư luận thấy và biết rõ trò lừa vô cùng bỉ ổi và nguy hiểm này của Việt cộng.

Hôm nay, nhân mùa Quốc Hận 30 tháng 4 năm 2013, Giáo Già xin nhắc lại một số điểm quan trọng cho thấy Mỹ không có “cướp nước” Việt Nam; vậy mà Việt cộng cứ buộc dân Việt Nam phải nghe theo chúng mà “chống Mỹ cứu nước”. Trong suốt mấy mươi năm qua chỉ có bọn cầm quyền Cộng sản Bắc Việt xâm lăng Miền Nam Việt Nam rồi cai trị cả nước bằng độc đảng độc tài, gây tang tóc quê hương và điêu linh dân tộc. Xin ghi lại một số điểm chánh:

1. Mỹ không hề xâm lược Việt Nam, hay rõ hơn là Miền Nam Việt Nam, như Việt cộng rêu rao; vì Mỹ đến Việt Nam không chiếm của Việt Nam một tất đất, một hải đảo nào. Họ cũng không cai trị Việt Nam bằng bất cứ một chánh quyền nào. Ngược lại họ chỉ giúp Miền Nam chống lại cuộc xâm lăng của Cộng sản Bắc Việt. Hơn thế nữa, họ còn giúp Miền Nam phát triển kinh tế để trở thành vùng đất phồn vinh ngang hàng, có khi hơn, các quốc gia phồn vinh trong vùng Ðông Nam Á, như Singapore, Ðài Loan, Thái Lan, Mã Lai, Indonesia...

2. Quân đội Mỹ có mặt ở Miền Nam Việt Nam trước hết là là để cố vấn quân lực Việt Nam Cộng Hòa còn non trẻ trong giai đoạn đầu. Khi Cộng sản Bắc Việt cho thành lập “Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam” ngày 20/12/1960 đâu có ai thấy bóng dáng quân đội Mỹ ở Miền Nam Việt Nam. Năm 1965 Mỹ mới bắt đầu đưa quân vào Miền Nam Việt Nam để giúp Miền Nam Việt Nam chống lại Cộng sản Bắc Việt; vì cuộc xâm lăng Miền Nam Việt Nam của Cộng sản Bắc Việt ngày càng leo thang với số viện trợ quá dồi dào của Liên Sô, Trung cộng và khối Cộng sản quốc tế.

3. Chính Liên Sô, quốc gia chi viện nhiều nhứt cho Cộng sản Bắc Việt, trong một số tài liệu được giải mã, cũng nhìn nhận “Người Mỹ chắc chắn không xâm lược Việt Nam như cách người Pháp thực dân làm trước năm 1945...” Cộng sản Bắc Việt xâm lăng Miền Nam Việt Nam trong vai trò nhuộm đỏ vùng Ðông Nam Á cho Cộng sản quốc tế. Chính Lê Duẫn, Bí thư thứ nhất đảng Lao Ðộng (CSVN), đã từng nói: “Ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Sô, đánh cho Trung Quốc.” (Vũ Thư Hiên, Ðêm giữa ban ngày, Nxb. Văn Nghệ, California, 1997, tr. 422 và tiết lộ của Nguyễn Mạnh Cầm, ngoại trưởng CSVN từ 1991 đến 2000, trong cuộc phỏng vấn của đài BBC ngày 24-1-2013.)

4. Hơn nữa, chính Trung cộng, qua cửa miệng Mao Trạch Ðông, muốn Cộng sản Bắc Việt chiếm Miền Nam Việt Nam để Tàu tràn xuống chiếm các vùng đất trù phú ở phía đông và nam Thái Bình Dương... nên việc “chống Mỹ cứu nước” không phải là cứu nước Việt Nam mà là mở rộng nước Tàu cộng, như mọi người đều biết là từ tháng 8 năm 1965, tại cuộc họp Bộ Chính trị Ban Chấp Hành Trung ương Ðảng Cộng sản Trung Quốc, Mao Trạch Ðông đã tuyên bố: “Chúng ta phải giành cho được Ðông Nam Á, gồm cả miền Nam Việt Nam, Thailand, Miến Ðiện, Malaysia, Singapore... Một vùng như Ðông Nam Á rất giàu, ở đấy có nhiều khoáng sản, xứng đáng với sự tốn kém cần thiết để chiếm lấy”.
Lê Ðức Thọ của CSVN và Henry Kissinger của Mỹ
5. Ðến khi sự có mặt ở Việt Nam không còn cần thiết nữa thì Mỹ cho thu xếp mọi chuyện tiến hành Hiệp định Paris, ký kết ngày 27 tháng 1 năm 1973, để rút quân về nước [xem hình Lê Ðức Thọ của CSVN và Henry Kissinger của Mỹ bắt tay nhau sau lễ ký kết]. Vì chuyện riêng của đất nước mình Mỹ không muốn giúp Việt Nam Cộng Hòa đánh Việt cộng nữa; họ thu xếp rút quân về chớ có thua đâu mà mỉa mai là “tháo chạy” như lời tựa cuốn sách của Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng; để bộ đội Việt cộng ở lại khắp các chiến trường; để chúng mau lẹ vị phạm hiệp ước chúng vừa ký kết, xua quân tràn qua vĩ tuyến thứ 17, tràn ngập các chiến trường, tiến hành mau lẹ các trận đánh ác liệt, hoàn tất cuộc xâm lăng Miền Nam Việt Nam. Ðây cũng là cách Việt cộng Lê Ðức Thọ lừa đảo cả giải Nobel Hòa Bình thế giới, khiến họ đã trao giải “Nobel Hòa Bình” cho một tội phạm chiến tranh, để Việt Nam có một nền “hòa bình” khiến số người chết còn thê thảm hơn cả chiến tranh.

6. Ðiều cũng không được quên nữa là trong cuộc chiến bị Việt cộng gọi là “Chống Mỹ Cứu Nước” đó chúng đã dàn dựng quá nhiều chuyện để lên án quân đội Mỹ là “ác ôn” trong khi chẳng có một lần, cho dầu chỉ một lần, nói lên lòng nhân đạo của người quân nhân Mỹ như trong hình chụp đính kèm [xem hình].

Như vậy, chống Mỹ cứu nước chỉ là trò lừa của Cộng sản Bắc Việt để tiến hành cuộc xâm lăng Miền Nam Việt Nam, sau khi đã chiếm được một nửa nước Việt Nam, từ vĩ tuyến thứ 17 trở ra phía bắc, theo Hiệp định Genève năm 1954, với sự giúp đỡ tích cực của Trung cộng.

Do đó, danh xưng được dùng cho cuộc chiến không phải “Chống Mỹ Cứu Nước” mà là “Cuôc Chiến Xâm Lăng Miền Nam Việt Nam Của Cộng Sản Bắc Việt”.

Cùng lúc với trò lừa đảo “Chống Mỹ Cứu Nước” Cộng sản Bắc Việt cũng lừa đảo chuyện “Xâm Lăng Miền Nam Việt Nam” mà chúng đã chuẩn bị ngay khi Hiệp định Genève năm 1954 vừa ráo mực, vì chúng chỉ đưa một số cán binh lộ diện tập kết ra Bắc, còn lại thì ém ở các địa phương Miền Nam, trà trộn trong dân. Ðồng thời chúng cũng hối hả cho tổ chức những cuộc hôn nhân, cho cán binh cưới vợ rồi để vợ ở lại Miền Nam, làm cơ sở cho cán binh trở lại hoạt động, khi thời cơ cho phép; đó là chưa kể những người phụ nữ bất hạnh đó sinh cho chúng những đứa con làm gạch nối cho những hoạt động của chúng về sau, gây nên trùng trùng ngang trái trong đời sống của người dân Miền Nam, khi chúng tiến hành cuộc chiến xâm lăng Miền Nam Việt Nam. Mặt khác, trước khi cán binh Việt cộng lên đường tập kết, Việt cộng cũng cho chôn giấu võ khí ở một số nơi chúng dự trù làm căn cứ cho cuộc chiến mà chúng chuẩn bị trước.

Ðể che giấu mặt thật xâm lăng Miền Nam Việt Nam, Việt cộng dựng lên chiêu bài “giải phóng” để lừa đảo dư luận. Ngày 20/12/1960 chúng cho thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam. Nó được chính thức ra đời theo yêu cầu chiến tranh của Ðảng Lao động Việt Nam (CSVN), vào ngày 20 tháng 12 năm 1960, tại xã Tân Lập, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh, đặt dưới sự lãnh đạo của Bộ Chính trị và Trung ương Cục miền Nam.

Từ đó, dưới sự lừa đảo tinh vi, cuộc xâm lăng Miền Nam Việt Nam, qua chiêu bài “giải phóng”, được tiến hành ngày càng mãnh liệt hơn, với số bộ đội xâm nhập ngày càng đông hơn, vũ khí được trang bị tối tân hơn và sự tàn bạo của cán binh nhắm vào các viên chức Việt Nam Cộng Hòa và người dân có liên quan đến chánh quyền cũng dã man hơn... để cuối cùng kết thúc bằng sự lừa đảo thô bạo của Cộng sản Bắc Việt khi tiến quân vào Sài Gòn. Nó thể hiện qua thái độ xấc xược của tên sĩ quan Cộng sản Bắc Việt trực diện Ðại tướng Dương Văn Minh, ngồi ở dinh Ðộc Lập, sáng ngày 30/4/1975, chờ bàn giao chánh quyền Việt Nam Cộng Hòa cho chúng. Hắn thô bạo nói:

“Mầy dám nói là trao quyền hả? Mầy chỉ là một kẻ cướp quyền và một bù nhìn. Mầy làm gì có “quyền” nào để giao cho tao? Chúng tao lấy được quyền đó bằng khẩu súng nầy đây. Ngoài ra tao xác nhận với mầy là tao không phải là tướng mà chỉ là một trung tá ủy viên chánh trị của một đơn vị chiến xa. Kể từ bây giờ tao cấm mầy không được ngồi xuống!” [Trích Hồi ký của cựu Ðại tá Dương Hiếu Nghĩa, thuật lại theo lời kể của cựu Trung tá Nguyễn văn Binh, cựu quận trưởng quận Gò Vấp, (anh rễ của Ngô công Ðức, cũng là bạn thân của cựu Ðại tá Nghĩa) người cũng có mặt tại Dinh Ðộc Lập từ sáng ngày 30/4... Xem hình Ðại tướng Minh đọc lời tuyên bố đầu hàng do Việt cộng soạn ở đài phát thanh Sài Gòn] 
Cuộc xâm lăng Miền Nam Việt Nam hoàn tất. Vai trò Giải phóng Miền Nam Việt Nam coi như đã xong. Tưởng như mọi chuyện đều tốt đẹp. Nhưng nỗi kinh hoàng đã thật sự trùm phủ toàn cõi Miền Nam Việt Nam. Nó được ghi lại qua bài viết mang tên “GIẢI PHÓNG” NỔI KINH HOÀNG CỦA NGƯỜI DÂN VIỆT” của Tiến Sĩ Việt cộng Lê Hiễn Dương, nguyên Hiệu Trưởng Ðại Học Ðồng Tháp. Xin trích nguyên văn:
“Còn nhớ ngày 30 táng 4 năm 1975, lúc đó chúng tôi còn là sinh viên của đại học sư phạm Vinh đã hồ hởi, phấn khởi hò reo meeting nhiều đêm ngày để mừng Miền Nam được hoàn toàn giải phóng, bởi chúng tôi tin rằng từ đây đồng bào Miền Nam ruột thịt của chúng tôi sẽ không còn đói rách lầm than và không còn sống trong cảnh “Ngụy kềm, Mỹ kẹp” nữa... Họ đã được đảng và Bác cùng nhân dân Miền Bắc chúng tôi “giải phóng”. Và những tháng tiếp theo đó chúng tôi được tận mắt nhìn thấy hàng đàn hàng lủ bọn “ngụy quyền ác ôn”!? bị sự trừng phạt bởi chính quyền cách mạng, của nhân dân miền Bắc và của chính chúng tôi... Số là mỗi tuần một lần. chúng tôi được chính quyền và ban giám hiệu nhà trường thông báo vào những ngày giờ có những ô tô của cục quân pháp chuyển tù cải tạo là những sỹ quan, “ngụy quyền ác ôn” của chính quyền Mỹ Thiệu đi ngang qua địa phương để đến các trại cải tạo ở mạn ngược. Cùng với đồng bào địa phương, mỗi sinh viên chúng tôi phải chuẩn bị đầy đủ số đá trứng nhặt từ đường ray xe lửa để khi đoàn xe tù đi ngang qua là hô hào toàn dân trút những trận mưa đá lên đầu những tên “ngụy quyền” ác ôn này, bởi chúng có quá nhiều nợ máu với nhân dân, với đất nước... Và sau mỗi lần trừng trị bọn ngụy quyền ác ôn đó, chúng tôi đều có hội họp, báo công và được tuyên dương khen thửơng, được kết nạp vào đoàn, được vinh dự đứng vào hang ngũ của đảng vì đã “đả thương” được bao nhiêu sỹ quan ngụy quyền đó.!? Tất nhiên là cũng có nhiều buổi họp báo công, chúng tôi cũng bị phê bình kiểm điểm vì đã không có trường hợp thương vong nào được ghi nhận trong những vụ “tập kích” đó...?? [xem hình Quân đội Bắc Việt áp giải tù binh miền Nam, tháng 5 năm 1975. AFP PHOTO]

Kết thúc 4 năm đại học với vô số những cuộc tập kích để ném đá vào những xe chuyển tù, rồi chúng tôi cũng tốt nghiệp đại học, rồi được đảng và nhà nước chi viện vào miền Nam để mang “ánh sáng văn hóa” vào cho đồng bào miền Nam ruột thịt bao năm qua sống trong u tối lầm than vì cứ liên miên bị Ngụy kềm Mỹ kẹp chứ đâu có học hành gì!?

. Chúng tôi thực sự choáng ngợp khi xe qua khỏi vùng chiến sự Quảng Trị, đến Huế, đến Ðà Nẵng... rồi Nha Trang, Sài Gòn, rồi về Miền Tây, đến thị trấn Cao Lãnh, đâu đâu cũng lầu đài phố xá, chứ có tường đất mái tranh như ở thành phố Vinh chúng tôi đâu.

Nhận xong nhiệm sở từ ty giáo dục Ðồng Tháp, chúng tôi được đưa về công tác tại trường trung học sư phạm Ðồng Tháp ngay tại trung tâm của thị trấn Cao Lãnh, và tại đây, trong suốt nhiều năm liền chúng tôi được bố trí ở tại khách sạn Thiên Lợi mà chính quyền cách mạng đã tịch biên từ tên “tư sản” Thiên Lợi... Chúng tôi đi từ choáng ngợp này đến choáng ngợp khác, bởi đây là lần đầu tiên chúng tôi biết được thế nào là “Khách Sạn”, biết được thế nào là lavabo là toilet tự xả nước, bởi cả thành phố Vinh, cả tỉnh Nghệ An chúng tôi hay thậm chí cả miền Bắc XHCN lúc bấy giờ là không có, chỉ sử dụng hố xí lộ thiên, để còn dùng nguồn “phân Bắc” này để canh tác, để tăng gia sản xuất theo sáng kiến kinh nghiệm “cấp nhà nước” của đại tướng Nguyễn Chí Thanh mà được bác Hồ khen thưởng và có thơ ca ngợi rằng:

“Hoan hô anh Nguyễn Chí Thanh
Anh về phân Bắc, phân xanh đầy nhà”...

Thậm chí ở xã Hưng Lĩnh, Hưng Nguyên quê tôi lúc bấy giờ còn có cả những vụ án các tập đoàn viên, các hợp tác xã viên “can tội trộm cắp” phân bắc từ các hố xí của láng giềng để nộp cho hợp tác xã...!?. Tôi thấm thía hơn với những câu thơ ca ngợi miền Bắc đi lên XHCN của Tố Hữu mà ngoài sinh viên học sinh chúng tôi ra thì hầu như cả nhân dân miền Bắc lúc bấy giờ ai cũng thuộc nằm lòng:

“Dọn tí phân rơi nhặt từng ngọn lá
Mỗi hòn than mẩu thóc cân ngô
Hai tay ta gom góp dựng cơ đồ...”

Tôi bắt đầu nghi ngờ với cụm từ “giải phóng miền nam”... Rồi những trận đổi tiền để đánh tư sản, rồi nhiều nhà cửa của đồng bào bị tịch biên, rồi hàng triệu đồng bào bắt đầu bỏ nước ra đi, nhiều giáo sinh của trường chúng tôi cũng vắng dần theo làn sóng đi tìm tự do đó... Tôi bắt đầu hiểu đích thực ý nghĩa của cụm từ “giải phóng niền nam” và bắt đầu cảm thấy xấu hổ cho bao nhiêu năm sống trong niềm ảo vọng mù quáng của bản thân... mà dù ở chừng mực nào cũng được xem là thành phần trí thức trong xã hội...

Dần dần tôi hiểu sâu hơn cái sự mỉa mai chua chát của hai từ “GIẢI PHÓNG” đang được dùng trong kho tàng Tiếng Việt của nước nhà... “Giải phóng miền nam” thực sự có mang lại niềm vui, niềm hạnh phúc vô biên và cả sự thịnh vượng nữa với gia sản có thể đột ngột tăng lên cả 16 tấn vàng ròng... (từ ngân hàng chế độ Saìgòn Miền Nam để lại) Nhưng tất nhiên chỉ cho một thiểu số trong xã hội XHCN miền Bắc, chỉ chừng 16 người trong tổng số non 50 triệu dân lúc bấy giờ thôi... Còn lại thì “giải phóng” đồng nghĩa với nhân dân miền Bắc là cảnh nhà nhà côi cút vì “sinh Bắc tử Nam” mất con, mất chồng, mất cha, mất anh mất em bởi họ đã vào chiến trường miền Nam để đi “giải phóng” và không bao giờ trở về nữa... “Giải phóng” với dân miền Nam cũng có nghĩa là tù đày, là cải tạo nơi rừng thiêng nước độc, là mất vợ... mất con, mất nhà cửa ruộng vườn, mất bao nhiêu người thân trên biển cả và mất hết tự do dân chủ nhân quyền và mất luôn cả tổ quốc nơi mình sinh ra!

Rồi đến “giải phóng mặt bằng” cũng chỉ mang nguồn lợi lớn lao cho “muôn quan” địa phương, nhưng lại là nỗi ám ảnh, nỗi hãi hùng của “muôn dân”, bởi sau “giải phóng mặt bằng” là hàng trăm đồng bào lại phải vô tù ra khám bởi tội “chống người thi hành công vụ”, bởi sau giải phóng mặt bằng là cái chết của thiếu niên Lê Xuân Dũng và Lê Hữu Nam, là thương tật của nông dân Lê thị Thanh.

Chẳng biết người dân Việt nam từ nay còn dùng cụm từ “trước ngày giải phóng” hay “sau ngày giải phóng” để định mốc thời gian nữa không... Riêng tôi, tôi cảm thấy quá căm thù nhân loại bởi đã bịa ra từ ngữ “giải phóng” và “giải phóng mặt bằng” mà chi để dân Việt chúng tôi vì nó mà phải khổ lụy đến dường này.

Ðồng Tháp ngày 29 tháng 5 năm 2010

Tiến Sỹ Lê Hiển Dương
Nguyên Hiệu Trưởng Ðại Học Ðồng Tháp. 


Bên cạnh nỗi kinh hoàng của Tiến sĩ Việt cộng Lê Hiễn Dương, mọi người ai cũng thấy, sau năm 1975, không lâu sau khi người Miền Bắc tràn vào Miền Nam, vấn nạn “giải phóng” xoay ngược chiều mau lẹ, khiến dư luận đặt ngay câu hỏi “ai giải phóng ai?” [xem biếm họa của Babui trích từ DCV Online]

Thật vậy, buổi đầu, người Miền Nam bị những kẻ cao ngạo Miền Bắc tự cho là “chiến thắng” ép sống theo phong cách của người Miền Bắc, từ cách ăn mặc cho đến ngôn ngữ và lối cư xử hằng ngày... Nhưng, trừ bọn “cách mạng 30”, và những kẻ theo đuôi, chẳng có mấy ai theo.

Trong khi đó, trái lại, hầu hết người Miền Bắc có dịp vào Nam, hay có dịp tiếp xúc với người Miền Nam ra Bắc, họ đều học theo phong cách của người Miền Nam, cái phong cách mà trong mấy ngày đầu 30 tháng 4 năm 1975 chúng cho là “đồi trụy”. Họ ăn mặc theo kiểu cách của người Miền Nam, đua đòi theo thời trang của người Miền Nam, say mê nghe “nhạc vàng”, tìm đọc sách của các tác giả Miền Nam mà chúng từng cho là “đồi trụy”, từng bị chúng kiểm kê, tịch thâu, đốt bỏ, lấy làm giấy gói đồ... Ngay cả nam cán bộ lãnh đạo hàng đầu của chúng cũng đua đòi mang giày da, thắt cà vạt..., nữ cán bộ mặc áo dài may đúng thời trang... trang điểm phấn son... đến độ coi như tất cả đã bị Miền Nam đồng hóa... khiến kẻ bại nghiểm nhiên trở thành người thắng trên đủ mọi lãnh vực...
Bìa cuốn DVD Đại Họa Mất Nước
Xâm lăng được Miền Nam Việt Nam rồi Cộng sản Bắc Việt không “giải phóng” được Miền Nam mà chúng đã lần hồi được người Miền Nam “giải phóng” khỏi cái lạc hậu mấy mươi năm trước, để chúng hãnh diện đua đòi sống theo phong cách Miền Nam. Nhưng, bất hạnh thay, cái coi như “chiến thắng” của chúng không phải để phát triển và xây dựng đất nước Việt Nam mà để từng hồi “bán nước” cho Tàu, gây thành đại họa mất nước. Vấn nạn này đã từng được trình bày sống động qua cuốn DVD Ðại Họa Mất Nước do Ðại Gia Ðình Nguyễn Ngọc Huy thực hiện và phát hành 3 năm trước [2010 ố Xem hình].

Hôm nay, theo dõi những chuyển biến thời cuộc trong thời gian gần đây Giáo Già xin được ghi nhận một số sự kiện tiêu biểu CSVN đã bán nước như thế nào, để thấy những nỗ lực “chống Tàu diệt Việt cộng” cần được đẩy mạnh hơn nữa, khi đại họa mất nước đang là những thực tế phũ phàng đè nặng đất nước và dân tộc Việt:

1. Cho tới nay, rất nhiều lần Cộng sản Việt Nam tìm đủ mọi cách để cải chính, nhưng phần lãnh thổ ở biên giới và lãnh hải bị Trung Cộng lấn chiếm từ thời Tổng Bí Thư Lê Khả Phiêu không cách gì che giấu được khi nó đã rõ trong 3 văn kiện, gồm:

(1) “Hiệp ước biên giới trên đất liền” (30/12/1999);

(2) “Hiệp định về phân định lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của hai nước trong vịnh Bắc Bộ”; và

(3) “Hiệp định hợp tác nghề cá ở Vịnh Bắc Bộ” (25/12/2000).

Chính người của CSVN là Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, nguyên Ðại sứ của CSVN tại Bắc Kinh từ 1974 đến 1989, đã nói như sau:

“Ðánh ta năm 1979 một mặt gạt bỏ sự hàm ơn của ta đối với những giúp đỡ trước đây của nhân dân Trung Quốc, mặt khác tự phơi bày ý đồ vụ lợi trong sự viện trợ cho ta. Khi không đạt được thì trở mặt... Năm 1984, Trung Quốc huy động một Trung đoàn với hỏa lực mạnh liên tục tấn công bắn giết phân đội quân ta đóng giữ cao điểm 1.502 ở huyện Vị Xuyên, cuối cùng chiếm lấy cao điểm ấy làm điểm quan sát từ xa, nhòm vào nội địa ta. Ở biên giới phía Bắc nước ta từ trước đến nay, dân hai bên đã có những việc xâm canh, xâm cư, dân ta cũng có một số điểm xâm canh sang đất Trung Quốc, diện tích không đáng kể, dân Trung Quốc xâm canh, xâm cư sang nước ta tại rất nhiều điểm, tổng diện tích khá lớn. Trong đàm phán phân định biên giới, Trung Quốc luôn nêu lên “phân định theo hiện trạng”, tranh luận qua lại, Trung Quốc luôn nêu “nhân nhượng lẫn nhau vì đại cục(?),cuối cùng Trung Quốc vẫn ăn hơn thì mới chịu. Thác Bản Giốc vốn của ta nay họ chiếm đứt được một nửa. Xưa Nguyễn Trãi tiễn cha đến tận ải Nam Quan, trước nay ta vẫn nói đất nước ta từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau, sau đàm phán, biên giới nước ta tụt lùi xuống mãi đến chợ Tân Thanh, đối diện đã là trụ sở hải quan của Trung Quốc...” (17-03-2010, Bauxite Việt Nam)

Lính Trung Quốc hay công nhân Trung Quốc tại Việt Nam.
2. Tiếp theo sau Lê Khả Phiêu, khi ông Nông Ðức Mạnh lên làm Tổng Bí thư liền hai khóa đảng IX và X (từ 22/04/2001 đến 12/01/2011), ông này, với sự đồng thuận của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã để cho Trung Cộng vào khai thác Bauxite ở Tây Nguyên, mặc dù không có phép của Ủy ban Trung ương đảng và của Quốc hội. Theo tiết lộ WikiLeaks [ghi nhận được trên Google]: “Vụ Bauxite Tây Nguyên, Nông Ðức Mạnh nhận 300 triệu USD và Nguyễn Tấn Dũng nhận 150 triệu USD là có thật. Tiết lộ này cho biết những chuyển ngân cho gia đình Thủ Tướng Nguyền Tấn Dũng chỉ bắt đầu vào cuối năm 2006 và đến tháng 6 năm 2009 thì tổng số cũng đã lên khoảng gần 150 triệu đô la. Kể từ cuối năm 2001 đã có những giao dịch chuyển ngân hàng chục triệu đô la từ Trung Quốc sang các tài khoản của gia đình Tổng Bí Thư Nông Ðức Mạnh ở Thụy Sĩ và ở Cayman Islands. Vào thời điểm của điện văn này là tháng 6 năm 2009 thì tổng số đã chuyển ngân lên tới gần 300 triệu đô la...” Ngoài ra, Radio Chân Trời Mới ngày16/6/2009 cũng nói rằng “Theo nguồn tin cao cấp từ giới lãnh đạo đảng CSVN vừa được tiết lộ và kiểm chứng qua một số thành viên ngoại giao đoàn tại Hà Nội thì từ tháng 10/2008, nhà cầm quyền Trung Quốc qua mạng lưới ngân hàng ngoại vi của họ đã chuyển nạp vào hệ thống kinh doanh của gia đình Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng tổng cộng hơn 150 triệu đô la Mỹ.Phần lớn số tiền này nằm bên ngoài lãnh thổ Việt Nam. Vẫn theo nguồn tin mà Radio Chân Trời Mới nhận được thì đây là món tiền để trao đổi với việc ông Nguyễn Tấn Dũng chấp thuận và tiếp tục đẩy mạnh kế hoạch khai thác Bô-xít Tây Nguyên tại 2 địa điểm hiện nay là Ðắc Nông và Tân Rai, bất kể các phản đối từ công luận và thành phần chuyên gia công nghệ, quân sự Việt Nam” [Xem thêm “Từ Bauxite đến Uranium, tiến trình đô hộ Việt Nam của Trung cộng, của Mai Thanh Truyết, Trần Minh Xuân, Phan Văn Song, Mekong-Tỵnạn tái bản, 2012].

3. Rất nhiều Công ty của Trung Cộng đã được ưu tiên “trúng thầu” nhiều dự án kinh tế với giá rẻ, chiếm nhiều vị trí chiến lược dọc theo bờ biển và dọc theo biền giới... Ở những nơi Trung cộng hiện diện Nhà nước CSVN đều để chúng coi như lãnh địa của chúng, cho thiết lập những làng xóm cho bọn người của chúng cư trú, xem thường luật pháp Việt Nam...

4. CSVN cũng cho Trung cộng xâm nhập lãnh thổ Việt Nam qua kế họach cho thuê rừng dài hạn đến 50 năm, để chúng trọn quyền khai thác, phá rừng và trồng rừng... coi như lãnh thổ của chúng; đặc biệt là phần lãnh thổ chiến lược dọc theo biên giới...

5. Ðến khi Nguyễn Phú Trọng nhận chức Tổng Bí thư ngày 19-01-2011 tại Ðại hội đảng khóa XI; chỉ 10 tháng sau, Trọng sang Bắc Kinh ký 6 điểm thỏa hiệp với Tổng Bí thư đảng Cộng sản Trung Cộng là Hồ Cẩm Ðào gọi là “Nguyên tắc giải quyết vấn đề trên biển Việt-Trung”, để “hợp tác cùng phát triển”. Ðược biết, thỏa hiệp Nguyễn Phú Trọng ký ở Bắc Kinh ngày 11/10/2011 có điểm quan trọng là:

• Ðiểm 5: “Giải quyết các vấn đề trên biển theo tinh thần tuần tự tiệm tiến, dễ trước khó sau. Vững bước thúc đẩy đàm phán phân định vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ, đồng thời tích cực bàn bạc về vấn đề hợp tác cùng phát triển tại vùng biển này. Tích cực thúc đẩy hợp tác trên các lĩnh vực ít nhạy cảm như bảo vệ môi trường biển, nghiên cứu khoa học biển, tìm kiếm, cứu hộ cứu nạn trên biển, phòng chống, giảm thiểu thiệt hại do thiên tai. Nỗ lực tăng cường tin cậy lẫn nhau để tạo điều kiện cho việc giải quyết các vấn đề khó khăn hơn.”

Nhưng Trung Cộng đâu có chủ quyền lãnh hải ở Biển Ðông trong lãnh hải của Việt Nam mà đòi “hợp tác cùng phát triển”?.

6. Ngang ngược hơn nữa là giờ đây, Trung Cộng đã gọi đấu thầu Quốc tế ít nhất là 9 lô tìm kiếm dầu trong vùng “đặc quyền kinh tế” của Việt Nam, hoặc “nằm chồng lên” các lô tìm kiếm mà chính Việt Nam đã gọi thầu Quốc tế trước Trung Cộng, ở giữa Quần đảo Trường Sa và bở biển tỉnh Khánh Hòa! Trung Cộng cũng đã và đang khai thác dầu trong vùng Vịnh Bắc Bộ mặc dầu hai bên chưa ngã ngũ về đường ranh giới chủ quyền, theo Thỏa hiệp năm 2000, dưới thời Lê Khả Phiêu...

Hôm nay, lại đến ngày Quốc Hận 30 tháng 4, ngày Cộng sản Bắc Việt hoàn tất cuộc xâm lăng Miền Nam 38 năm trước (30/4/1975), và đang bán nước cho Tàu cộng, hầu hết mọi nơi ở hải ngoại đều có tổ chức ngày tưởng niệm ngày tang chung của dân tộc, ngày đau thương của đất nước, với nhiều nghi thức vinh danh những anh hùng dân tộc đã hy sinh cho Tổ Quốc Việt Nam; và lên án Cộng sản đã và đang đưa đất nước đến thảm họa; đã và đang cai trị toàn cỏi Việt Nam bằng độc đảng độc tài; đã và đang đưa dân tộc vào đại họa Bắc thuộc lần thứ 5.

Hai ngày trước, đề cặp đến vấn nạn này, ngày 28/4/2013, thông tín viên Hiền Vy, trong một bài viết được đưa lên đài RFA đã nói rằng:“...38 năm trôi qua, những sự thật về “chiến thắng”, “giải phóng”, hay “xâm lăng” đã hiện rõ, ai là bên thắng, ai là bên thua và chính nghĩa ở đâu, đã phơi bày. Kỹ thuật tân tiến về thông tin đã làm các mặt nạ “giải phóng” rơi xuống. Hiện tình đất nước đổi thay, Việt Nam đang phát triển hay mất dần vào tay Trung Quốc? Sự thật bi đát đã phơi bày và chính những người trẻ sống và lớn lên trong chế độ như Việt Khang, Ðoàn văn Vươn, Nguyễn Ðức Kiên... là những nhân chứng sống hùng hồn cho những ai còn ảo tưởng về Xã Hội Chủ Nghĩa. Người dân Việt trong nước vẫn tiếp tục hy sinh và giai cấp độc quyền thống trị chỉ biết có quyền lợi riêng tư đang ngự trị trên quê hương. Rất nhiều người cho rằng những người cầm quyền không hề quan tâm đến sự tồn vong của đất nước. Không ít người tự hỏi, phải chăng “nhà nước” đang góp phần tích cực phục vụ cho âm mưu biến Việt Nam thành một phần của Trung Quốc”.

nguon :vietvungvinh

Posted by Phuongnam Đ at  6:03 AM  

__._,_.___

Bánh Mì Và Sự Thật



Subject: Bánh Mì Và Sự Thật
From: cquoctrinh
Date: Tue, 31 Dec 2013 16:49:33 -0600

 
Bánh Mì Và Sự Thật
 
Tác giả: Tưởng N Tiến
https://mail.google.com/mail/u/0/?shva=1#inbox/143218f3b113719e
Sứ mệnh cao cả của nhà báo là kiếm tìm sự thật. Sự thật ấy phải được phản ánh đạt tính chân thật, tức là “đúng hiện thực khách quan”. Và sự thật ấy phải được soi dọi bằng lương tâm chức nghiệp. Tôi nhớ người Nga có một câu ngạn ngữ vô cùng chí lí: “Một nửa cái bánh mỳ vẫn là bánh mỳ, nhưng một nửa sự thật đã là sự giả dối!”
-
Ngọc Niên, Tổng Biên Tập trang Nhà Báo & Công Luận – Cơ Quan Trung Ương Hội Nhà Báo Việt Nam

Phần 1 của Sự Thật

Cái gì chớ “nửa cái bánh mì” thì tui ăn đều đều, còn “nửa sự thực” thì tới bữa rồi mới được thưởng thức qua một bài viết (Người đàn bà tặng hơn 5.000 lượng vàng cho cách mạng) của nhà báo Hoàng Thuỳ, trên trang Tin Nhanh Việt Nam:

“Hơn 90% số tiền buôn vải được vợ chồng bà Hồ dùng để ủng hộ cách mạng. Có khi trong nhà không sẵn tiền mà đúng lúc cách mạng cần, bà sẵn sàng bán phá giá vải để gom đủ tiền đưa cho cán bộ.

Ở tuổi 97, bà Hoàng Thị Minh Hồ vẫn giữ nét đẹp của người phụ nữ Hà Nội gốc: Gương mặt phúc hậu, nước da trắng, giọng nói ấm áp và thái độ điềm đạm. Trong ngôi nhà số 34 Hoàng Diệu (Hà Nội), nơi bà sống cùng hai con trai, hai chiếc huân chương độc lập hạng nhất được đặt nơi trang trọng nhất. Bà cho hay, đó là phần thưởng cao quý mà nhà nước dành tặng người chồng quá cố Trịnh Văn Bô và bà vì những đóng góp to lớn cho cách mạng.

Giữ giọng chậm rãi, bà Hồ kể, ngôi nhà số 48 Hàng Ngang của bà trước kia là tiệm vải Phúc Lợi, thuộc loại lớn nhất Hà Nội thời bấy giờ.

Có điều kiện dư dả, hai ông bà thường xuyên làm từ thiện, giúp đỡ người nghèo. Thấy vậy, cán bộ Việt Minh đã đến nhà vận động ông bà đi theo cách mạng. Việt Minh khó khăn, không có tiền ra báo, bà đã ủng hộ 8 vạn rưỡi tiền Đông Dương. Ngôi nhà số 48 Hàng Ngang cũng được chọn làm trụ sở hoạt động của cách mạng.

Bà Hồ cho biết, thân sinh ra bà là cụ Hoàng Đạo Phương và Nguyễn Thị Lợi cũng như thân sinh của chồng bà, cụ Trịnh Phúc Lợi, đều là những nhà Nho yêu nước, từng tham gia Đông Kinh Nghĩa Thục. Tất cả đều đỗ đạt mà không ai làm quan. Cụ Phương khi gần 80 tuổi đã gọi các con lại nói rằng: “Ta đã già mà chưa làm trọn việc nước, sau này con nào có điều kiện giúp nước thì hãy làm thay ta”.

“Lời căn dặn của cha tôi luôn khắc ghi trong lòng. Và khi có điều kiện là tôi giúp nước ngay mà không hề suy nghĩ”, bà Hồ tâm sự.

Ngôi nhà số 48 Hàng Ngang được xây theo kiểu nhà ống cổ, gồm 4 tầng. Tầng một là cửa hàng vải Phúc Lợi nổi tiếng khắp vùng. Khách đến mua đông đúc, xung quanh lại tấp nập người qua lại nên được chọn làm nơi ở cho Bác Hồ cùng những nhà lãnh đạo cách mạng từ chiến khu trở về.

Bà Hồ nhớ, vào một buổi tối cuối tháng 8 năm 1945, ông Nguyễn Lương Bằng đến nhà bảo vợ chồng bà thu xếp một phòng đón cán bộ cách mạng đến ở. Ông bà dọn một phòng tầng 3 tươm tất để đón khách. Tuy nhiên, người khách mới đến lại dọn xuống tầng 2 để ở cùng mọi người cho tiện.

“Ấn tượng đầu tiên của tôi về người khách mới là sự giản dị. Ông cụ hơi gầy, vầng trán cao, râu dài, tóc bạc. Cụ mặc áo nâu, quần soóc nâu, đội mũ dạ, đi dép cao su hiệu con hổ trắng, tay cầm can. Để đảm bảo bí mật, chúng tôi nói với gia nhân rằng họ là người nhà ở dưới quê lên chơi và tất cả đều không được lên tầng 2 làm phiền”, bà Hồ nhớ lại.

33 ngày Bác ở nhà bà (từ 24/8 đến 27/9), bà đều trực tiếp chỉ đạo nhà bếp nấu ăn phục vụ Người. Sau đó, hai vợ chồng bà thay nhau bê lên. Vào 9h hằng ngày, bà thường bê cháo và hoa quả lên cho Bác. Một hôm bà đang định quay gót thì Bác hỏi “Cô tên gì?”. Sau khi bà trả lời, Bác lại nói “Cô còn trẻ mà đã có cơ đồ sự nghiệp, có chồng con, tiền bạc. Cô chẳng có gì khổ cả”.

Nghe vậy bà Hồ khẳng khái nói: “Cháu vẫn có một điều khổ, đó là nỗi nhục mất nước”. Bác cười: “Vậy thì kiên trì và nhẫn nại nhé!”
 https://mail.google.com/mail/u/0/?shva=1#inbox/143218f3b113719e
Ông bà Trịnh Văn Bô. Ảnh: Xuân Ba

Phần 2 của Sự Thật

Sau khi “cách mạng” thành công, ông Hồ Chí Minh trở thành chủ tịch nước thì bà Hoàng Thị Minh Hồ lại lâm vào cảnh … mất nhà. Đó là nửa phần sự thực còn lại của câu chuyện mà nhà báo Hoàng Thuỳ đã không kể kết, hay nói một cách không mấy lịch sự là ông ấy “nhất định dấu biến đi cứ y như là mèo dấu cứt” vậy.
 
Phần nửa sự thực này mới được công luận biết đến qua một tác phẩm mới (Bên Thắng Cuộc) của một nhà báo khác, Huy Đức:

“Năm 1954 từ nơi tản cư trở về, gia đình ông Trịnh Văn Bô không còn một căn nhà nào để ở, cho dù trước đó, ông sở hữu biệt thự nổi tiếng 48 Hàng Ngang và nhiều dinh thự khác như 34 Hoàng Diệu, 24 Nguyễn Gia Thiều, 56-58 Tràng Tiền… Ông Trịnh Văn Bô (1914-1988) là một doanh nhân Việt Nam nổi tiếng giữa thế kỷ 20. Cha ông, ông Trịnh Văn Đường và cha vợ ông, ông Hoàng Đạo Phương, đều là những nhà nho cùng thời với cụ Lương Văn Can, từng đóng góp rất nhiều cho phong trào Đông Kinh Nghĩa Thục.
 
Ông Trịnh Văn Bô cùng vợ là bà Hoàng Thị Minh Hồ, trong 10 năm, kinh doanh thành công, đưa tài sản của hãng tơ lụa Phúc Lợi tăng lên 100 lần so với ngày thừa kế hãng này từ cha mình. Tơ lụa do Phúc Lợi sản xuất được bán sang Lào, Campuchia, Thái Lan, được các thương nhân Pháp, Anh, Thuỵ Sĩ, Thuỵ Điển, Ấn Độ, Trung Quốc và Nhật Bản tìm kiếm.
 
Từ năm 1944, gia đình ông nằm trong sự chú ý của những người cộng sản. Ngày 14-11-1944, hai vợ chồng ông bà cùng người con trai cả đồng ý tham gia Việt Minh. Vài tháng sau, ông bà đã mang một vạn đồng Đông Dương ra ủng hộ Mặt trận Việt Minh và từ đó, gia đình ông Trịnh Văn Bô trở thành một nguồn cung cấp tài chánh to lớn cho những người cộng sản. Đến trước Cách mạng tháng Tám, gia đình ông đã ủng hộ Việt Minh 8,5 vạn đồng Đông Dương, tương đương 212,5 cây vàng. Khi những người cộng sản cướp chính quyền, ông bà Trịnh Văn Bô được đưa vào Ban vận động Quỹ Độc lập(298).
 
Ngày 24-8-1945, khi Chính phủ lâm thời về Hà Nội, Hồ Chí Minh, Trường Chinh, Phạm Văn Đồng, Lê Đức Thọ, Hoàng Quốc Việt, Hoàng Tùng đều đã ở hoặc qua lại ngôi nhà 48 Hàng Ngang. Ba đêm đầu Hồ Chí Minh ngủ trên giường của ông bà Trịnh Văn Bô, sau đó, ông xuống tầng hai, ngủ trên chiếc giường bạt còn các nhà lãnh đạo khác thì kê ghế da hoặc rải chiếu ngủ. Ở tầng trệt, cửa hàng vẫn hoạt động bình thường, ngay cả bảo vệ của Hồ Chí Minh cũng không xuống nhà để tránh gây chú ý. Mọi việc ăn uống đều do bà Trịnh Văn Bô lo, thực khách hàng ngày ngồi kín chiếc bàn ăn 12 chỗ.
 
Trong suốt từ 24-8 cho đến ngày 2-9-1945 Chủ tịch Hồ Chí Minh hiếm khi ra khỏi nhà 48 Hàng Ngang. Mỗi buổi sáng, cứ sau khi ông tập thể dục xong, bà Trịnh Văn Bô lại đích thân mang thức ăn sáng lên. Bà nhớ, có lần Hồ Chí Minh đã giữ bà lại và hỏi: “Cô bao nhiêu tuổi mà có được gia tài lớn thế này?”

Năm ấy bà 31 tuổi, dù có 4 đứa con nhưng vẫn còn xinh đẹp. Hồ Chí Minh ở lại đây cho đến ngày 27-9-1945. Mỗi khi ra khỏi nhà, Hồ Chí Minh thường xuống tầng dưới vấn an bà mẹ ông Trịnh Văn Bô và gọi bà là mẹ nuôi. Ở 48 Hàng Ngang, Hồ Chí Minh đã ngồi viết bản Tuyên Ngôn Độc Lập và tiếp các sĩ quan OSS (tiền thân của CIA) như Archimedes Patti và Allison Thomas.

Quần áo mà các lãnh đạo Việt Minh bận trong ngày lễ Độc lập, đều do gia đình ông bà cung cấp. Các ông Phạm Văn Đồng, Võ Nguyên Giáp thì mặc đồ của ông Trịnh Văn Bô còn áo của Chủ tịch Hồ Chí Minh thì may bằng vải Phúc Lợi.

Khi Pháp tái chiếm Đông Dương, ông Trịnh Văn Bô theo Chính phủ Kháng chiến lên Việt Bắc còn vợ ông thì mang 5 người con, trong đó có một đứa con nhỏ, cùng với mẹ chồng lên “vùng tự do” Phú Thọ. Những năm ở đó, từ một bậc trâm anh, thế phiệt, bà đã phải cuốc đất trồng khoai và buôn bán để nuôi con.

Năm 1955, gia đình ông Trịnh Văn Bô trở về Hà Nội. Ông bà tiếp tục xoay xở và bắt đầu phải bán dần đồ đạc cũ để nuôi sống gia đình. Lúc này, toàn bộ biệt thự, cửa hàng đều đã bị các cơ quan nhà nước sử dụng hoặc chia cho cán bộ nhân viên ở. Lúc đầu, Nhà nước “mượn” sau tự làm giấy nói gia đình xin hiến, nhưng cụ bà Trịnh Văn Bô bảo: “Tôi không ký”.
 
Năm 1958, Chủ tịch Hồ Chí Minh cho tiến hành “cải tạo xã hội chủ nghĩa” trên toàn miền Bắc, các nhà tư sản Việt Nam buộc phải giao nhà máy, cơ sở kinh doanh cho Nhà nước. Bà Trịnh Văn Bô lại được kêu gọi “làm gương”, đưa xưởng dệt của bà vào “công tư hợp doanh”. Bà Bô cùng các nhà tư sản được cho học tập để nhận rõ, tài sản mà họ có được là do bóc lột, bây giờ Chính phủ nhân đạo cho làm phó giám đốc trong các nhà máy, xí nghiệp của mình. Không chỉ riêng bà Bô, các nhà tư sản từng nuôi Việt Minh như chủ hãng nước mắm Cát Hải, chủ hãng dệt Cự Doanh cũng chấp nhận hợp doanh và làm phó.
 
Cho dù được ghi nhận công lao, trong lý lịch các con của ông Trịnh Văn Bô vẫn phải ghi thành phần giai cấp là “tư sản dân tộc”, và rất ít khi hai chữ “dân tộc” được nhắc tới. Con trai ông Trịnh Văn Bô, ông Trịnh Kiến Quốc kể: “Ở trường, các thầy giáo, nhất là giáo viên chính trị, nhìn chị em tôi như những công dân hạng ba. Vào đại học, càng bị kỳ thị vì lượng sinh viên người Hà Nội không còn nhiều.

Trong trường chủ yếu là sinh viên con em cán bộ thuộc thành phần cơ bản từ Nghệ An, Thanh Hoá… những người xếp sinh viên Hải Phòng, Hà Nội vào thứ hạng chót. Chị tôi vào Đại học Bách Khoa, năm 1959, phải đi lao động rèn luyện một năm trên công trường Cổ Ngư, con đường về sau Cụ Hồ đổi thành đường Thanh Niên, và sau đó là lao động trên công trường Hồ Bảy Mẫu”.
 
Cả gia đình ông Trịnh Văn Bô, sau khi về Hà Nội đã phải ở nhà thuê. Năm 1954, Thiếu tướng Hoàng Văn Thái có làm giấy mượn căn nhà số 34 Hoàng Diệu của ông với thời hạn 2 năm. Nhưng cho đến khi ông Trịnh Văn Bô qua đời, gia đình ông vẫn không đòi lại được.
 
Bánh mì có thể biến mất sau khi vào dạ dày; nhưng sự thật thì vẫn trường tồn …nhất là trong các đám mây Internet
_


Chuyển tiếp .Đọc để biết bí mật của "du-hoc-sinh" VN tai Hoa-ky .


 


Chuyển tiếp  .Đọc để biết  bí mật của "du-hoc-sinh" VN tai Hoa-ky .

From: PHU LE <>
Sent: Wednesday, January 1, 2014 8:17 PM
Subject: Chuyện du sinh VN tại Mỹ



http://i.imgur.com/9BjC3.gif
     Một chân y tá tại một Bệnh viên  ở Quận 6 (Saigon) giá 50 triệu (bà con bên chồng của con gái tôi).
     Một chân hải quan tại phi trường Tân sơn Nhất giá 300 triệu! (cháu dâu/ngoại của tôi)
p,le
On Wednesday, January 1, 2014 8:01 AM, Pho Tri  wrote:







Chuyển mời đọc, trong link hay nguyên bài bên dưới:

Chuyện Trò Với Một Du Sinh Đang Theo Học Tại SDSU/ SAN DIEGO

http://bacaytruc.com/index.php?option=com_content&view=article&id=7405:chuyn-tro-vi-mt-du-sinh-ang-theo-hc-ti-sdsu-san-diego&catid=34:din-an-c-gi&Itemid=53

Trong một bữa tiệc tổ chức ở sân sau nhà một người bạn. Đồ tôi chú ý đến một thanh niên đang ăn uống một cách “nhiệt tình” ở cuối vườn. Chỉ trong một thời gian ngắn, mà em đã đi lấy đồ ăn 2, 3 lần… Thấy lạ, Đồ tôi lấy một cái ghế đến ngồi gần em:
- Chào cháu.
- Dạ, chào chú ạ..
Cái giọng đặc sệt Bắc kỳ mới, đã khiến Đồ tôi xác định ngay ra “đối tượng” chắc chắn là một du học sinh… Có khác là so với những “đứa” mà Đồ tôi và cư dân ở thành phố, nơi có tới 3 trường Đại học lớn này, đã thường gặp “chúng” . Từng đàn, từng lũ quậy phá trên các đường phố, trong các quán xá, nơi vui chơi… thì thiếu niên ngồi trước mặt Đồ tôi, khác hẳn.
- Chú tên là Đồ Ng., còn cháu tên gì ?
- Cháu tên Lợi, Đinh Toàn Thắng Lợi
(Vừa dứt câu, Đồ tôi thấy em mặt biến sắc, lấy tay bụm miệng, một biểu hiện sự lỡ lời).
Đồ tôi phì cười:
- Cháu là du học sinh đến từ… Hà nội?
“Thằng bé” có vẻ hoảng hốt:
- Sao, sao chú biết ?
Đồ tôi biết tại sao em có vẻ sợ hãi, an ủi:
- Ấy là, nghe giọng nói của cháu, lại được biết những người miền Bắc thường mang tên rất kêu, có người còn đổi cả họ thành họ Hồ, họ Đặng…
- Thưa chú, như phần cháu thì không nói.. Nhưng hiện tại thanh niên VN đều có tên Mỹ không à…
Thấy Lợi rục rịch muốn đứng lên ( tìm chỗ khác )…Đồ Tôi ngạc nhiên:
- Sao hình như Cháu không muốn nói chuyện với ai? Cháu yên tâm…con út của chú bằng tuổi cháu… Ấy là chú xa VN cũng lâu rồi, muốn biết thêm.. Vả lại, tại Cháu chưa quen đấy thôi, chứ ở Mỹ này, cháu có thể nói hết những điều gì cháu nghĩ trong đầu, kể cả những điều ấy có khi phạm luật. Miễn là cháu không được biến chúng thành hành động. Thí dụ: Cháu nhớ rằng Việt Cộng hay dùng mấy chữ “Quy cho…về tư tưởng” để kết án ai… Nhưng ở Mỹ thì hoàn toàn thoái mái. Thí dụ ngược lại ở Mỹ, kỵ nhất là ma túy… Nhưng ở Việt Nam, nhà cầm quyền CS vốn chủ trương chính sách ngu dân. Họ không công khai ủng hộ, nhưng ma túy không phải là những thứ “hàng cấm triệt để”.
Lợi có vẻ yên tâm:
- Những người lớn tuổi ở VN, còn dặn con qua đây phải nhớ 2 không, 1 có.
- Thế nào là 2 không, 1 có ?
- Thưa chú: Đó là: Không được tiếp xúc với Cộng đồng Việt. Không được xưng tên thật. Một “có” là… mà thôi cháu không dám nói…
- Thôi được, cháu không muốn nói thì thôi… Nhưng cháu đang theo học ngành nào?
- Thưa chú, cháu học Political Science !
Đồ tôi lại thêm ngạc nhiên:
- Chú thấy đa số du sinh qua đây, họ học về điện tử, computer, tài chính. Còn ngành cháu học, rộng lắm nó gồm cả luật, cả kinh tế, cả lịch sử xã hội…. Phải giỏi tiếng Anh thì chú nghĩ không quan trọng lắm, vì nói viết một thứ tiếng nào đấy, lâu thành quen thôi. Chú nghĩ cháu có thể trở ngại về môn học này đấy. Vả lại, hiện tại, chú nói cháu đừng tự ái, cả 2 giới, cai trị (Đảng, chính quyền) và bị trị (Dân chúng) ở VN đều áp dụng và bị đè ép bằng những quy định rừng rú… Bản chất của người Cộng sản là đa nghi vì họ không có tự tin. Do vậy, từ khuôn phép do Đảng đề ra là: Thà Bắt Lầm Còn Hơn Tha Lầm… Nên đã xẩy ra bao nhiêu trường hợp oan sai…
Đồ tôi nghe tiếng nấc, đôi mắt to tròn ngấn lệ, lấp ló nỗi u uất vời vợi…
- Chú ạ, du sinh qua đây đa phần từ những gia đình có quyền, có tiền… Hoàn cảnh con có khác. Chú vừa nói đến 2 chữ oan sai… Ông bà cố nội ngoại con đều bị quy chụp từ thời Cải cách… Chỉ có vài sào ruộng thôi, thế mà bị ghép vào thành phần địa chủ.. Đến bố con thì chuyện bi kịch ấy đã giáng xuống gia đình con một cách khủng khiếp.
Nguyên do từ việc người chồng trước của Mẹ con tự nhiên xuất hiện với chức vụ Trưởng Công An Huyện (Huyện N.Đ, Ngh.A.). Sau khi lấy lý do Mẹ con không có con với ông ấy để ly hôn. Ông ta tiếp tục lấy mấy “bà” nữa nhưng vẫn không ai cho ông ta một mụn con nào…
Chỉ sau 2 ngày ông ta về nhậm chức Trưởng Công An. Ông đến nhà con. Lúc ấy, Ba con đi làm chưa về… Ông ấy thẳng thừng đề nghị tái hợp với mẹ con…
Mẹ con khóc xin:
- Tôi nay đã có chồng rồi… Con gái lớn của tôi đã gần 16 tuổi, đứa út (là cháu) đã 14 tuổi. Chồng tôi là một người chồng, người cha tốt… sao lại có chuyện vô lý vậy… Không… nhất định không?
Ông ta đứng dậy ra về, ngoái cổ lại tung ra một câu oan nghiệt:
- Bà khen chồng bà trước mặt tôi, đấy là điều xỉ nhục… Tôi sẽ bố trí cho nó một… việc là xong ngay..
Một việc của ông ta là: Ngày hôm sau, trên đường đi làm. Bố con bị đội cảnh sát hành sự bắt vào đồn công an. Họ phù phép làm sao không biết nhưng trong cái túi đựng đồ ăn trưa của Bố. Có 95 gram hêroin !
Giải thích cho mẹ con tại sao là con số 95, cho cái án chung thân của Bố. Hắn gầm gừ:
- Đấy là vì tình nghĩa với bà… tôi bớt đi 5 gam để dành mạng sống cho nó…(*)
Đêm hôm ấy, sau khi viết thư kêu oan cho chồng… Mẹ con đã uống thuốc trừ sâu tự tử.
Chú ơi, cháu đã đọc rất nhiều sách báo, xem rất nhiều phim bộ. Những oan khuất được các nhà văn, đạo diễn với những diễn viên phản diện đóng, nhưng chưa thấy nơi nào vô pháp vô thiên như ở Việt Nam bây giờ.
Chú cho cháu kể tiếp, chị cháu, lúc ấy mới có 16 tuổi đành phải nhắm mắt lấy một đại gia đáng tuổi ông nội của mình. Nhờ có tiền nên án chung thân của ba cháu biến thành án… treo… Sau đó, chị bảo cháu:
- Em phải đi nước ngoài đi, 1 là để tránh những tai bay vạ gió cho bất cứ người dân nào, dù có lương thiện cách mấy đi nữa. 2 là, em phải học, học thật tốt… nếu Mẹ mình có linh thiêng, nếu trời còn thương cho dân tộc mình thì những người ở Mỹ, những thế hệ du sinh ở Mỹ trở về… biết đâu chừng sẽ cứu được cái cảnh lầm than này…
Nhưng, Chú ạ… Nghĩ là một chuyện, thực hành là một chuyện khác… Con thấy đường học vấn của con ở đây xem ra chẳng sáng sủa bao nhiêu… Sinh ngữ thì ăn đong, trí óc thì đặc sệt. Bây giờ, qua bên Mỹ này, cháu mới hiểu tại sao những sinh viên người Mỹ, những sinh viên gốc Việt họ học sao dễ dàng thế, họ học như chơi vậy, ấy tại vì từ lớp nhỏ, họ đã không bị đẩy, bị ép, bị nhồi sọ, họ thảnh thơi lên đại học. Còn như ở VN, những học sinh đàng hoàng, muốn tiến thân bằng cái đầu của mình, đồng nghĩa với học gạo… Rồi cộng thêm cái gánh nặng lúc nào cũng oằn lên vai vì cơm áo gạo tiền…
Đồ tôi muốn “khai thông” cho câu chuyện chuyển qua “mạch” khác, nên an ủi:
- Cháu ạ, Chú muốn hỏi cháu, với lý lịch “đen” như Cháu, làm sao Cháu được đi du học ?
Lợi cười như mếu:
- Cháu nói như thế này Chú tin không? Ở VN, cái gì cũng có giá của nó… Một ông A nào đấy muốn làm Trưởng công an huyện, thậm chí làm Chủ tịch Tỉnh ư ? nếu ông ấy biết “Đầu vào” nghĩa là biết chỗ mua, có tiền đủ để mua… Đều được tất… Chị cháu chỉ cần kêu thằng cò lo về xuất cảnh đến: Thằng em tôi muốn đi học bên Mỹ, trọn gói là bao nhiêu… thế là xong..
- Cháu thì thế, theo chú biết ở thành phố này có khoảng trên 5000 Du học sinh từ VN, như thế họ cũng gặp khó khăn như Cháu sao ?
- Chú ơi… Cháu có thể chia họ ra thành 3 phần:
1/ Những con ông cháu cha chỉ mang tiếng du sinh nhưng họ qua đây làm cái đầu cầu, làm cái “kho” giữ tiền, họ mua nhà trả bằng tiền mặt để làm dư địa cho cha mẹ sẽ hạ cánh an toàn ở Mỹ này…
2/ Những cán bộ nhà nước, khoác áo du sinh qua đây để làm công tác sinh viên vận với chỉ tiêu được đặt ra là mỗi trường ở Cali, phải thành lập bằng được một chi hội sinh viên… Nhưng, cho đến nay, họ đã thất bại… Chú à, cháu có đọc các báo giấy và báo mạng của người Việt ở Hải ngoại này… Tựu trung đều phản ảnh tâm trạng bi quan về những chia rẽ, nạn chụp mũ cho nhau. Nhưng cháu (và cả những cán bộ CS) đều có chung một nhận xét, ấy là…. tuy bề ngoài họ rời rạc như thế, nhưng nếu có “anh” Việt gian nào giở chiêu trò gì là y như họ sát nhập thành một khối, rất vững chắc… Những vụ treo cờ máu (chữ dùng của người viết) hay lập hội là y như anh em sinh viên gốc Việt ở đây báo ngay cho Cộng đồng… Họ đến thẳng trường phản đối… khi thành công, còn tặng thêm cờ vàng 3 sọc đỏ để nhà trường treo, nữa chớ…
Đồ tôi thấy thích thú khi Lợi tỏ chân tình… Tuy có chút ngạc nhiên, nên Đồ tôi vẫn khuyến khích cho em ấy… “trải lòng” mình:
- Còn loại nào nữa không cháu ?
- Loại thứ 3 này có khác: Họ gồm những người qua đây với ước muốn học được cái gì ở một nước, mà chúng cháu gọi là thiên đường này… Qua đây để ở luôn, cháu thú thật với chú… Như cháu đây, nếu không học tiếp nổi, thì như bố cháu và nhất là chị gái cháu vừa mới quyết định: Gia đình sẵn sàng gửi tiền qua cho … lấy vợ (quốc tịch Mỹ…. Xin lỗi chú, đấy là “1 Có” của bất cứ du sinh từ Việt Nam đấy chú ạ), “Lấy” làm sao thì Chú chắc cũng biết rồi !
- Còn loại nào khác không cháu?
- Loại du sinh này, con số không phải là nhỏ… Ấy là ở VN người ta đang đua nhau khoe của, khoe đẹp, khoe con (Khoản này ở Hải ngoại cũng có). Cái mác có con du học tại Mỹ đủ để cha mẹ chúng “tự sướng” một tấc đến trời, trong những buổi họp bạn, trong những mối làm ăn… Chúng sang đây, vào trường ngồi cho có lệ, nhưng đi ra ngoài vào chốn ăn chơi thì là chủ yếu… Cách đây vài tháng, tin này báo mạng, báo giấy đồng loạt đưa tin: Bố mẹ của một du sinh vừa ra ngân hàng gửi tiền vào account cho “ông con” đang là du sinh ở Mỹ… vừa bước xuống thềm ngân hàng thì gặp “ông” con kia, cặp tay con bồ… bước vào ngân hàng… Hỏi ra mới biết… Cậu ta cũng đi Mỹ, cũng làm thủ tục học, kiếm nhà ở… Nhưng sau đấy lẻn về sống với bồ ngay ở Hà Nội…….
Đồ Ng.
(HNPD)
* Luật CS: Trên 100 gram thì bị tử hình.


My Blog List