Hình ảnh nói lên: Sự kiện Tội Ác Việt Cộng ! ! !






https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEj6kLmYKa-hPj1HvFQ9_a90KHJhUV_iUMIMpX4OuUtcp6iY8tidLohE38X7ObP2c42O5V9-qDdwu0FmyTgJjcSZI_uM_-UibAiDC_1ucag_fkHs2pV3BymecImeC0W5_uks9TF3NPCej5k/s1600/babui-danlambao-%C4%90a%CC%82%CC%81t+nu%CC%9Bo%CC%9B%CC%81c+la%CC%80+ca%CC%81i+%C4%91uo%CC%82i+sam1.jpg








Wednesday, September 17, 2014

Nợ doanh nghiệp nhà nước Việt Nam: Nguy cơ cận kề ?


TẠP CHÍ KINH TẾ

  • Podcast
  • Tải nạp chương trình này
  •  
  •  
  •  
  • inShare

Tổng công ty Giấy Việt Nam có lợi nhuận rất thấp - DR
  • Nợ doanh nghiệp nhà nước Việt Nam: Nguy cơ cận kề ?

Đầu tư trực tiếp nước ngoài giảm sụt. Việt Nam phải vay thêm 6 tỷ đô la một năm, 5 trong số đó là để trả nợ nước ngoài, chỉ còn 1 tỷ đề sử dụng. Nợ của các doanh nghiệp nhà nước cao gần gấp ba lần so với nợ công của chính phủ. Trên đây là nhận định của Tiến sĩ Vũ Quang Việt, nguyên là chuyên gia về thống kê của Liên Hiệp Quốc về tình hình nợ công của Việt Nam hiện tại.

Hồ sơ nợ công lại nổi lên trong nước, tuy không phải là một vấn đề mới của Việt Nam, nhưng tại sao lại gây chú ý trong thời điểm này. Khái niệm nợ công trên lý thuyết và thực tế của Việt Nam ? Khi nào thì nợ công đạt mức báo động nói chung và trong trường hợp của Việt Nam nói riêng ? Đâu là những giải pháp cho Việt Nam ?
Bộ trưởng Tài chính Việt Nam tuyên bố tỷ lệ nợ công so với GDP của Việt Nam năm 2013 tương đương với 53,4% GDP, tức là vẫn ở dưỡi ngưỡng an toàn. 

Các chuyên gia trong và ngoài nước không mấy tin tưởng vào nhận xét nói trên.

Theo báo cáo về chỉ tiêu giám sát nợ công do Viện kiểm toán nhà nước Việt Nam công bố hồi tháng 4/2014 tính đến cuối năm 2012, tổng dư nợ theo Luật Quản lý nợ công tương đương với 55,7% GDP. Báo cáo này đã đưa vào thống kê nợ của của các doanh nghiệp nhà nước Việt Nam.

Chuyên gia về thống kê từng làm việc tại Liên Hiệp Quốc, Tiến sĩ Vũ Quang Việt, đưa ra hai nhận xét. Thứ nhất, nợ công nước ngoài theo định nghĩa của Việt Nam là 59 tỷ đô la năm 2012 tăng với tốc độ rất nhanh -dù mới đây mức tăng có giảm- , năm 2009 là 24%, năm 2010 là 35,8%, năm 2011 là 18,2%, năm 2012 là 11,4%.

Nợ công theo định nghĩa này thường dựa vào các khoản mượn nước ngoài hay các tổ chức quốc tế, với lãi suất thấp và thời hạn phải trả dài nên không phải là thật đáng lo. Theo tỷ lệ nợ như vậy là khoảng 40% GDP. Thường tỷ lệ vượt 50% là phải lo. Vấn đề của Việt Nam là tốc độ tăng nợ công cao hơn tốc độ tăng GDP rất nhiều.

Thứ hai thống kê về nợ công của Việt Nam không bao gồm nợ của các doanh nghiệp nhà nước. Theo báo cáo của Bộ tài chính thì con số này là 62 tỷ đô la. Nhưng nếu tính cả nợ của doanh nghiệp nhà nước thì nợ công theo số liệu báo cáo và định nghĩa đúng phải là 121 tỷ đô la.

Nói cách khác, chính nợ của các doanh nghiệp nhà nước mới là thật đáng lo. Nợ xấu hiện nay là do nợ loại này chứ không phải nợ công theo định nghĩa của chính phủ.

RFI : Vì sao lo ngại nợ công lại nổi lên vào thời điểm này ?
Vũ Quang Việt : « Cho đến bây giờ, thật ra không rõ nợ công của Việt Nam thế nào. Trong thời gian vừa rồi, mức vay nợ của Việt Nam tăng lên khiến người ta lo ngại về vấn đề này. Có một khác biệt giữa cái mà chính phủ báo cáo với hiểu biết về mặt kinh tế. Theo báo cáo của chính phủ Việt Nam, nợ công chỉ gồm những khoản chính phủ vay. Trong đó không kể nợ mà các doanh nghiệp nhà nước đã đi vay. Nợ của các doanh nghiệp nhà nước mới là một vấn đề lớn. Ngay cả nợ của chính phủ, thường thường thống kê Việt Nam bỏ qua nợ của các chính phủ địa phương mà chỉ tập trung nói về nợ của trung ương mà thôi.

Chỉ đến mới đây, tức là năm vừa qua tôi mới thấy bản báo cáo liên quan đến hai loại nợ : nợ của trung ương và của các chính quyền địa phương. Như vậy trong năm 2012 nợ công của chính phủ trung ương và ở cấp địa phương của Việt Nam đã lên tới 77 tỷ đô la. Còn nếu như chỉ quan tâm tới nợ của trung ương, thì khoản nợ đó là 66 tỷ. Đấy là năm 2012. Còn dựa vào những mức tăng nợ hiện tại đang được báo chí Việt Nam nói tới, thì tôi ước tính nợ công của Việt Nam không còn là 77 tỷ nữa mà đã tăng lên tới 95 tỷ đô la rồi. Mà đó là chưa kể tới nợ của các doanh nghiệp nhà nước. Cộng thêm cả khoản này thì nợ công của Việt Nam sẽ rất là lớn. »
RFI : Nói cánh khác, theo ông hiện nay nợ của các doanh nghiệp nhà nước cao gấp đôi so với nợ của chính quyền trung ương và địa phương gộp lại. Các thống kê chính thức của Việt Nam không tính đến khoản nợ của các doanh nghiệp nhà nước trong phần nợ công ?

Vũ Quang Việt : « Theo định nghĩa về nợ công của Liên Hiệp Quốc và của các tổ chức quốc tế, thì nợ công gồm nợ của chính phủ trung ương và địa phương, cộng thêm vào đó là nợ tư mà chính phủ bảo lãnh, cộng với nợ của doanh nghiệp nhà nước trung ương và địa phương. Thế nhưng tại đa số các nước trên thế giới, họ chỉ có rất ít các các doanh nghiệp nhà nước và nếu có, thì nợ của các doanh nghiệp này nằm trong ngân sách của nhà nước.

Vì thế mà nợ công đồng nghĩa với nợ của chính phủ. Nhưng ở Việt Nam là một trường hợp khác : khu vực kinh tế quốc doanh rất lớn trong nền kinh tế. Như đã biết, các tập đoàn như Vinashin hay các tập đoàn ngân hàng nhà nước, trong trường hợp họ bị phá sản thì nhà nước phải chịu trách nhiệm. Do đó, nếu muốn phân tích đúng về trách nhiệm của nhà nước đối với nợ công, thì phải cộng luôn cả khoản nợ công của các doanh nghiệp nhà nước vào thống kê. Theo tôi, nợ của các doanh nghiệp nhà nước ít nhất cũng to bằng nợ công của chính phủ hiện tại ».

RFI : Tổng nợ công của Việt Nam theo định nghĩa quốc tế tương đương với ít nhất là 200 tỷ đô la ?
Vũ Quang Việt : « Vâng, như vậy tỷ lệ nợ của Việt Nam, nếu tính luôn nợ của các doanh nghiệp nhà nước có thể tương đương với hơn 200 % GDP. Cho đến bây giờ có sự khác biệt rất lớn giữa các báo cáo với thực tế. Bộ Tài chính báo cáo trong năm 2012 nợ của các doanh nghiệp là hơn khoảng hơn 60 tỷ đô la.Thế nhưng điều tra hàng năm của các doanh nghiệp từ tổng cục thống kê thì tổng nợ công của các doanh nghiệp nhà nước cao gấp ba lần so với các con số được bộ Tài chính đưa ra. Như vậy khoản này lên tới khoảng 200 tỷ đô la »
RFI : Vậy nợ công của Việt Nam đã đạt tới mức báo động hay chưa ?

Vũ Quang Việt : « Dĩ nhiên, nếu chỉ nói tới nợ của chính phủ, theo như định nghĩa về nợ công của Việt Nam thì tôi nghĩ là nó đã tới mức cần phải tính toán rất kỹ. Bởi vì Việt Nam đang có vấn đề khi trả nợ. Nói chung Việt Nam đi vay nợ với lãi suất thấp, và nhất là nếu như vay của các tổ chức quốc tế thì thời hạn vay rất là dài, có thể là 30, 50 năm. Do vậy khoản vay này không đáng ngại.

Điều cần quan tâm là các tổ chức quốc tế, bắt đầu cho vay ít hơn. Việt Nam phải đi vay trên thị trường công trái phiếu của thế giới. Mà ở đây thì lãi suất cao hơn nhiều. Đó là một điều đáng lo ngại. Theo các thống kê có được tôi thấy, hàng năm Việt Nam phải huy động khoảng 5 tỷ đô la để trả nợ cũ.

Vài ba năm trước, Việt Nam chỉ phải trả cho các chủ nợ có 1 tỷ đô la mà thôi. Tức là chi phí tài chính để thanh toán cho các chủ nợ đã tăng rất nhanh trong một thời gian tương đối ngắn. Mà 5 tỷ vừa nói chỉ là để thanh toán nợ cho nước ngoài thôi. Nợ trong nước, chưa kể. Trong khi đó, mỗi năm, Việt Nam vay vào thêm nợ mới là 6 tỷ, nhưng lại phải trả nợ hết 5 tỷ và chỉ còn lại 1 tỷ để sử dụng. Đây là tôi mới chỉ nói tới nợ phải trả nước ngoài chứ chưa tính đến nợ phải trả cho trong nước. Nợ trong nước lại là một vấn đề khác ».

RFI : Khi mà Việt Nam chỉ còn có 1 tỷ đô la để sử dụng như ông vừa nói thì khả năng đầu tư để phát triển của Việt Nam bị giảm mạnh ?
Vũ Quang Việt : « Tôi thấy như năm 2012-2013 Việt Nam đi vay 6 tỷ đô la, trong đó 5 tỷ là để trả nợ nước ngoài. Vậy còn có một để sử dụng. Điều đó có nghĩa là đầu tư của Việt Nam phải dựa vào tiềm lực của trong nước và đầu tư nước ngoà FDI. Tuy nhiên đầu tư trực tiếp ngoại quốc FDIvào Việt Nam đã liên tục giảm và đây cũng là một là vấn đề chứ không phải như là báo chí nói.
Nếu tính về đầu tư hàng năm của nước ngoài được thực hiện, thì trước khi được 8-9 tỷ, bây giờ chỉ còn 7 tỷ đô la. Chỉ có một điểm son đáng ghi nhận là kiều hối mà người Việt ở hải ngoại gửi về đã tăng và đây là một nguồn lực rất lớn đối với kinh tế Việt Nam ».

RFI : Như vừa nói, Việt Nam giờ đây phải huy động tiết kiệm của người dân trong nước để đầu tư. Vậy thưa ông khả năng tiết kiệm của người dân trong nước có lớn không ?

Vũ Quang Việt : « Như vậy tức là làm sao để vay của dân. Trong thời gian vừa rồi có một số chương trình huy động vốn của dân qua việc phát hành công trái phiếu. Trung ương cho phép các chính phủ địa phương phát hành công trái. Nhưng ở đây lại đặt ra nguy cơ phát hành bừa bãi công trái phiếu. Các giới chức chính quyền sẵn sàng trả lãi suất cao, đem vốn đi đầu tư bừa bãi. Trong tương lai, ai sẽ kiểm soát được những vấn đề đó ? Đây lại là một mối nguy khác và mối nguy này đã xảy ra tại Trung Quốc.

Vấn đề của Việt Nam là tìm kiếm số liệu (về nợ công, nợ doanh nghiệp nhà nước) và hệ thống kiểm soát số liệu rất là kém. Không nắm được số liệu chính xác thì khó lòng mà theo dõi tình hình. Cũng nên để ý thêm một yếu tố nữa đó là Việt Nam hiện đi vay với lãi suất rất cao. So với Nhật Bản thì nước này không bị lạm phát mà thậm chí là bị giảm phát. Thành thử lãi suất trả nợ đối với Nhật Bản không thành vấn đề. Trong khi đó Việt Nam bị lạm phát và trong một thời gian đã phải đi vay với lãi suất cao – hiện tại là 4 % nhưng trước kia có lúc lãi suất lên tới 15-20 % hay cao hơn thế nữa. Thanh toán nợ quá cao như vậy khiến một số phá sản, hay gây ra nợ xấu không trả được ».
RFI : Câu hỏi cuối cùng, vậy đâu là giải pháp cho nợ công Việt Nam ?

Vũ Quang Việt : « Tôi chỉ có nhận định thôi. Chứ còn nói về giải pháp thì phải có nhiều vấn đề cần giải quyết với nhau. Giải quyết nợ công, liên quan đến vấn đề phát triển, liên quan đến việc kềm hãm lạm phát. Thời gian vừa rồi, phải nói là Việt Nam đã ý thức được điều đó. Cho nên vấn đề kiểm soát lạm phát là khá thành công. Tức là đang từ hơn 20 % xuống còn khoảng 4-5 % theo tính toán của tôi. 4-5 % trong một quốc gia cũng là cao chứ không phải là thấp.

Kiểm soát lạm phát như vậy đương nhiên là phải giảm tốc độ tăng tín dụng. Trong năm 2013 tín dụng đã tăng chậm lại. Đó là điều tốt. Nhưng đồng thời cũng phải sử dụng những biện pháp khác, chẳng hạn như phát hành trái phiếu, khuyến khích tư nhân đầu tư, bán doanh nghiệp nhà nước để Việt Nam có vốn phát triển thay vì cấp tín dụng, bơm tiền vào các hoạt động kinh tế. 

Bơm tiền như vậy thì tạo ra lạm phát và kèm theo đó là cả một vòng xoáy với rất nhiều vấn đề. Nói chung Việt Nam đang kiểm soát được phần nào lạm phát và tôi nghĩ là nên tiếp tục như vậy. Nếu như quay lại với mục đích phải phát triển cao, thì có nghĩa là lại bơm tiền ra, và lại bị lạm phát trở lại.

Theo tôi thách thức đặt ra đối với Việt Nam là nâng cao năng suất lao động. Mà năng suất thấp nhất là ở khu vực kinh tế nhà nước. Các doanh nghiệp nhà nước sử dụng tư bản rất nhiều để sản xuất ra cùng một món hàng. Có thể nói các doanh nghiệp nhà nước là những ổ tham nhũng ở Việt Nam. Những cơ quan đó mượn được nhiều vốn, rồi không có khả năng chi trả, tạo ra nợ xấu, gây khó khăn cho ngân hàng ».


__._,_.___

Posted by: Dien bien hoa binh 

Tuesday, September 16, 2014

Việt Nam: xoay trục về đâu?

Việt Nam: xoay trục về đâu?

David Brown- Foreign Affairs- 9-9-2014-- Việt-Long lược dịch
2014-09-15
gen-dempsey-tovietnam
Tướng Martin Dempsey và tướng Đỗ Bá Tỵ, hai Tổng Tham Mưu Trưởng Mỹ-Việt diện kiến tại Hà Nội, tháng 8-2014
Courtesy of defensenew.com

Bối rối trong chiến lược

Chiến lược quốc tế của Việt Nam xoay chuyển đầy ấn tượng. Trong nhiều năm Hà Nội đã hy vọng có thể xoay sở được trước mưu đồ bá quyền khu vực của Trung Quốc, tự tin đủ sức cho Bắc Kinh thấy khả năng ngăn đe. Các quan chức của Hà Nội xây dựng mối quan hệ tương tác với các đồng nhiệm phía Bắc Kinh, đồng thời theo đuổi quan hệ hữu nghị với tất cả các nước, nhất là các nước láng giềng ASEAN, nhưng không liên minh với một ai.
Chiến lược đó bị rối bời mấy tháng nay. 100 tàu Trung Quốc đủ loại yểm trợ giàn khoan 1 tỉ đô la hoạt động cách bờ biển Việt Nam 130 hải lý, nằm trọn bên trong lãnh hải đặc quyền kinh tế của Việt Nam rộng tới 200 hải lý từ bờ biển. Hà Nội phản ứng bằng 30 điệp văn ngoại giao, Trung Quốc bác bỏ hết, từ chối cả chuyến thăm của Tổng bí Thư Nguyễn Phú Trọng.
Ủy viên Quốc Vụ Viện Dương Khiết Trì đến Hà Nội hôm 18 tháng 6, chẳng một lời xin lỗi mà còn nhiếc móc Việt Nam vì đã phản đối giàn khoan và để những cuộc biểu tình chống Trung Quốc vuột tầm kiểm soát . Truyền thông Trung Quốc mô tả chuyến đi của ông Dương như để cho Việt Nam một cơ hội "tự kiềm chế trước khi quá muộn".

Tham vọng đại dương: không lạ

Việc Trung Quốc bố trí giàn khoan nước sâu chẳng phải điều đáng ngạc nhiên. Ít nhất từ 2009 Bắc Kinh đã nhắm thành tựu quyền bá chủ thực tế trên biển Đông. Khu vực dầu khí ngoài khơi của Việt Nam trở thành mục tiêu chính.Các công ty đa quốc đầu tư mạnh ở Trung Quốc BP và ConocoPhilipps bị Bắc Kinh đe dọa, đã từ bỏ quyền khai thác trong hải phận Việt Nam vào năm 2009 và 2012. Năm 2011, tàu Trung Quốc sách nhiễu tàu khảo cứu của PetroVietnam.Năm sau, Tập đoàn dầu khí biển khơi CNOOC mời các công ty ngoại quốc đấu thầu quyền khai thác 9 lô dầu khí trong khu vực tự nhận và chồng lấn trên khu vực đặc quyền kinh tế của Việt Nam.
Cuối tháng 7 năm nay, tại Việt Nam tràn ngập tin đồn Bộ chính trị ĐCSVN đã bỏ phiếu 9 thuận 5 chống, nghiêng về lập trường chống Trung Quốc. Lại có tin Hội nghị Trung ương Đảng bất thường đã chuẩn y chủ trương mới của Bộ chính trị. Nhưng thực ra tin đồn chỉ phản ảnh ước muốn của công chúng vốn hận và chống Trung Quốc mạnh hơn cả giới lãnh đạo của họ. Bắc Kinh và Hà Nội vẫn là bè bạn, trên lý thuyết. Bộ trưởng Công An Lê Hồng Anh (Ủy viên Bộ chính trị, Bí thư Trung ương Đảng), nhân vật thân Trung Quốc có thế giá, được tiếp đón đúng nghi thức ở Bắc Kinh vào giữa tháng 8. Dịp này rõ ràng Trung Quốc đã cảnh cáo phía Việt Nam về những ý hướng không thân thiện.            
yang-jiechi-binhminh-jun-18
Uỷ viên QVV Dương Khiết-Trì và Ngọai trưởng Phạm Bình Minh trước khi vào hội nghị tại Hà Nội ngày 18 tháng 6, 2014- Courtesy of philstar.com

Hai bước chiến thuật

Tuy thế, rất có thể Việt Nam sẽ sớm thực hiện một kế sách 2 mặt để thay đổi đường lối.
Bước 1: lìa Trung Hoa
Thứ nhất, Việt Nam kiện Trung Quốc ra tòa quốc tế, mong đạt phán quyết rằng sự xác quyết của Bắc Kinh về "chủ quyền lịch sử" đối với gần toàn bộ biển Đông là bất hợp pháp, và Bắc Kinh không được phép thi hành kế sách của họ. Năm ngoái Hà Nội đã cân nhắc hành động này, khi Philippines mời Việt Nam cùng tham gia để kiện Trung Quốc ra tòa Luật biển Liên Hiệp Quốc. Hà Nội không tham gia. Nhưng hôm 14 tháng 5, hai tuần sau khi Bắc Kinh đặt giàn khoan, Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng nói với báo chí quốc tế rằng chính phủ đang suy xét hành động pháp lý. Gần cuối tháng 7, Đại học luật khoa thành phố Hồ Chí Minh triệu tập một hội nghị có nhiều khuôn mặt nổi tiếng tham dự theo yêu cầu của chính phủ, để tham vấn giới chuyên môn về chiến lược pháp lý.
Bước 2: Mỹ đã mở nửa vòng tay
Thứ nhì, Việt Nam có thể thiết lập một mối quan hệ quân sự và ngoại giao thâm thiết hơn với Hoa Kỳ -- không phải một liên minh chính thức nhưng là mối tương tác dựa trên quyền lợi chung khi cùng ngăn chặn bá quyền Trung Quốc ở biển Đông. Phó Thủ tướng kiêm Ngoại trưởng Phạm Bình Minh sẽ là nhân vật trung tâm của những nỗ lực này. Mấy ngày sau khi Trung Quốc đặt giàn khoan, Ngoại trưởng Hoa Kỳ John Kerry đã mời ông Minh thăm Washington. Chuyến đi sẽ diễn ra trong hạ tuần tháng 9 này.
Trước chuyến thăm của ông Phạm Bình Minh, Giám đốc Á châu sự vụ của Hội đồng An ninh quốc gia Hoa Kỳ Evan Medeiros đã lặng lẽ thăm Hà Nội vào cuối tháng 7. Các Thượng nghị sĩ John McCain và Sheldon Whitehouse lập tức nối gót, rồi hai tuần sau đến lựợt Đại tướng Martin Dempsey, Tổng tham mưu trưởng quân đội Mỹ, đến Việt Nam. Chuyến đi 4 ngày của đại tướng Dempsey được truyền thông Việt Nam tường thuật, phổ biến sâu rộng. Thượng Nghị Sĩ McCain và tướng Dempsey đều cho biết Washington sẵn sàng nới lỏng lệnh cấm chuyển giao vũ khí sát thương cho quân đội Việt Nam. Cả hai đều nói tới sự cần thiết của việc “Việt Nam tăng tiến nhận thức về lãnh vực hàng hải".

Lối thoát kiềng Trung Quốc: TPP

Một số nhà quan sát biện luận rằng một khi tách xa khỏi Bắc Kinh về chính trị, Việt Nam có thể gây nên một trận chiến kinh tế với Trung Quốc mà Việt Nam không thể nào chịu đựng. Nhưng mối sợ đó chỉ là bị thổi phồng. Việt Nam xuất khẩu than đá, dầu nhiên liệu, gỗ, và sản phẩm nông nghiệp sang Trung Quốc, nhậpkhẩu hàng cơ khí và sản phẩm tiêu thụ rẻ tiền; khoản này của mối quan hệ thương mại song phương không chỉ thất quân bình, mà cả hai nước đều có thể sẵn sàng kiếm được nhiều thị trường khác cho những món hàng đó.  Nếu có vấn đề, thì vấn đề nằm ở phần linh kiện điện tử, hàng dệt may, khóa kéo (zippers), nút áo, phụ tùng đóng giày do Trung Quốc đưa sang để Việt Nam lắp ráp, rồi tái xuất khẩu: Những thương vụ nhập khẩu này dù tạo nên thâm hụt mậu dịch khổng lồ cho Hà Nội, nó vẫn được bù đắp trên mức thâm hụt rất nhiều do Việt Nam bán những thành phẩm giày dép, dệt may, hàng điện tử sang châu Âu, Nhật Bản, Hoa Kỳ và những nước khác trên thế giới. Chỉ mất một hai năm là có thể tái lập chuỗi giao thương đầy giá trị này trong trường hợp Trung Quốc tức giận đến mức cắt đứt quan hệ thương mại.
Nhưng tại đây, một lần nữa, Hoa Kỳ có vẻ như lại mở ra một giải pháp xoay chuyển đầy tiềm năng: Hiệp ước Đối tác Xuyên Thái Bình Dương TPP, mà Việt Nam đã tham gia thương lượng từ 2009. Việt Nam là nước kém phát triển nhất trong số 12 quốc gia đối tác thương lượng, nhưng vẫn có thể thấy mức xuất khẩu tăng vọt thêm 1 phần ba khi hiệp ước có hiệu lực.

Giải quyết mâu thuẫn về nguyên tắc

mccain-in-vietnam

TNS. Hoa Kỳ John McCain thăm Việt Nam ngày 8-8-2014- Courtesy of english.vietnamnet.vn

Hà Nội muốn Hoa Kỳ dỡ bỏ lệnh cấm mua bán vũ khí sát thương, nhưng Mỹ đặt điều kiện Hà Nội phải cải tiến cách đối xử với những người bất đồng chính kiến. Đây chạm phải vấn đề nguyên tắc đối với cả hai chính phủ. Có khoảng cách lớn giữa đòi hỏi của Hoa Kỳ rằng chế độ Việt Nam tôn trọng quyền chính trị căn bản, đối chiếu với quan niệm của các lãnh tụ Cộng Sản Việt Nam rằng khoan nhượng cho sự kích động dân chủ là đặt một mối đe dọa hiện thực cho hệ thống (cai trị) của họ.
Dù sao chăng nữa, trong vấn đề tự do chính trị, Hà Nội, Washington, hay cả hai, phải tiến đến thỏa hiệp nếu muốn bước tới, nhưng không nước nào còn chỗ xoay sở cho việc này. Nhiều dân biểu Hoa Kỳ sẽ âu lo trước việc đón Hà Nội vào vòng tay, dù họ nhìn nhận rằng chặn đứng bá quyền khu vực là điều lợi cho cả hai nước.
Về phía Hà Nội, quan niệm của Bộ chính trị ĐCSVN về trật tự chính trị đã hạn chế khả năng thỏa hiệp trong lãnh vực nhân quyền. Nhưng nếu Hà Nội không thể cam kết mở rộng phạm vi tham gia chính trị, (một thể chế đa nguyên), hay Washington không thể có nhãn quan xa hơn hiện giờ, thì mối quan hệ chiến lược vốn được thương thảo lâu nay sẽ vẫn ngoài tầm tay.Đó là một yêu cầu khó khăn với nền hành pháp Obama. Ở biển Đông, Bắc Kinh không còn "trỗi dậy trong hoà bình" – thay vào đó, đã trở thành một kẻ bắt nạt láng giềng. Việt Nam, dù với đường lối chính trị khó chịu cố hữu, vẫn là nước duy nhất ở Đông Nam Á có khả năng chống lại, và nếu được khích lệ đúng cách, sẽ sẵn lòng chống lại anh khổng lồ dữ tợn Trung Hoa.
__._,_.___

Posted by: ly vanxuan 

Dân nhập cư kiếm sống tại Hà Nội


Dân nhập cư kiếm sống tại Hà Nội

Nhóm phóng viên tường trình từ VN
2014-09-15
  • In trang này
  • Chia sẻ
  • Ý kiến của Bạn
  • Email
09152014dannhapcu-ttvn.mp3
Dân nhập cư bán hoa mùa Tết ở Hà Nội.
AFP photo

Hà Nội mùa Thu, những hàng cây vặn mình trút lá, mặt hồ liễu rũ, bầy sâm cầm xưa không bay về nữa, nhưng cái nếp ngàn năm Thăng Long vẫn phảng phất đâu đó trong gió mùa. Người dân Hà Nội bắt đầu lục lọi áo len năm cũ, mua sắm áo gió để dạo phố. Hà Nội trở nên trầm mặc và sâu lắng hơn, con người trở nên im lặng. Và đâu đó giữa lòng Hà Nội, có những góc khuất, những cuộc đời nhỏ bé với mùa thu nhỏ bé và buồn đến nao lòng!
Dân oan kiếm sống để khiếu kiện
Một thiếu nữ nghèo tên Hương, bán hoa quả dạo ở quận Cầu Giấy, Hà Nội, chia sẻ:“Cái ngày mưa thì có vẻ người mua ít hơn. Nhưng đợt này Hà Nội mưa cũng không quá to, năm nay có vẻ hệ thống thoát nước tốt hơn thì phải, mấy năm trước nước ngập nổi lềnh bềnh nhưng năm nay không có. Người ta ở đây mấy mươi năm rồi mọi thứ nó thành cái nếp, mưa thì họ có cách của mưa. Giống như mấy đợt trước thì nó ngập lụt rất nhiều, tất cả mọi người vất vả hơn. Như năm trước em ở trong một căn nhà cũng ngập vào mùa mưa, nước cỡ thế này là ngập lềnh bềnh rồi, nhưng năm nay không ngập.”
Theo Hương, đa phần người bán hàng rong ở thành phố Hà Nội đều có hoàn cảnh khó khăn, sống xa quê và là dân oan, có người ở tít tận Thái Nguyên, Lào Cai hoặc Nghệ An, Hà Tỉnh ra thủ đô sống vật vạ qua ngày đoạn tháng bằng gánh hàng rong, xe hàng rong để tồn tại vì nhiều lý do, trong đó có lý do chờ ngày nhà nước giải oan về vấn đề đất đai bị lạm chiếm, gia đình rơi vào khủng hoảng ở quê nhà.
Thế nhưng đã có rất nhiều người rời quê lên thủ đô với niềm hy vọng rằng đến được đây, sẽ tiếp cận được các quan chức cấp cao, quan chức chính phủ để kêu oan, để họ lắng nghe tiếng nói oan ức của mình để rồi từ năm này sang năm nọ, hết ăn ngủ vật vạ chờ nộp đơn lại phải đi lượm rác, đi bốc vác thuê, rồi cuối cùng, họ trở thành những người vô gia cư giữa lòng Hà Nội lúc nào không hay.
Họ quen dần với đời sống sáng buôn thúng bán mẹt, chiều mua vài cọng rau, vài con tép khô, lưng lon gạo để nấu cơm qua bữa, gốc cây, gầm cầu, góc khuất trong công viên hoặc những đoạn lề đường vắng người trở thành nhà bếp, chỗ ăn và sau bữa ăn, đây là chỗ họ có thể lăn ra ngủ để quên đi sự đời, quên đi một ngày nhọc nhằn và đau khổ. Cứ như thế, ngày qua ngày, họ trở thành những người buôn bán kiếm sống và niềm hy vọng được kêu oan cũng nguội dần theo năm tháng. Cũng không còn gì để về quê, họ nghiễm nhiên làm người vô gia cư giữa thủ đô ngàn năm văn hiến.
Cũng theo Hương, hiện tại, nơi cô tá túc là một căn phòng tuềnh toàng rộng chưa đây tám mét vuông vốn là một nhà kho cũ của một gia đình người Hà Nội, vì thương tình cô và một số người phải vật vạ ngoài hành lang, lề đường, chủ nhà đã đánh tiếng mời cô và mấy người kia cùng tá túc qua đêm. Vì đây là một nhà kho và chẳng có giường chiếu gì, cứ tối về, mọi người trải một tấm bạt lăn ra ngủ chứ không dám trải chiếu.
Hỏi ra, Hương giải thích thêm là trải tấm bạt ít nguy hiểm cho chủ nhà bởi vì họ bí mật giúp đỡ cho cô và những người kia, chứ nếu đăng ký tạm trú, sẽ rất khó, chính vì vậy, mọi người trải bạt ra ngủ, nếu ngoài cổng có ai gõ cửa, thấy có biến động bất thường thì mọi người được báo động và lẻn ra ngõ sau, đi theo một con đường tương đối kín đáo để ra ngoài, xem như chủ nhà và khách đều không bị quấy rầy vì đã cho người tá túc bất hợp pháp.
Hương và những người bạn dân oan đi bán hàng rong đã tá túc ở đây gần ba năm nay, cũng nhờ người chủ nhà tốt bụng mà mọi người có chỗ để trú mưa, trú nắng.
Dân hàng rong thời khó
Một người bán hàng rong khác tên Nguyên, chia sẻ thêm:“Vì cái nghề này ngày nắng ngày mưa cũng không quan trọng. Làm thuê có nhiều việc để làm thuê, như mình đứng ở chợ người, chợ trời. Nhưng lao động ở bên xây dựng thì mùa mưa không có việc phải đi làm công việc khác thôi.”
Tiểu thương vận chuyển hàng hóa giữa Trung Quốc và Việt nam qua cửa khẩu Lạng Sơn. AFP photo
Theo ông Nguyên, rất nhiều người bán hàng rong có thâm niên hơn ba mươi năm nay ở Hà Nội, buổi sáng họ đạp chiếc xe cọc cạch đi mua hàng như hoa tươi, trái cây, bông bí, đọt bí, các loại bánh cho trẻ nít, xôi, chè… để đến những địa điểm quen thuộc ngồi bán. Và trong gánh hàng rong, xe hàng rong của họ chứa cả một thế giới nghèo ở dưới quê, có người nuôi con ăn học đến đại học cũng nhờ hàng rong, có người nuôi mẹ già, nuôi chồng bị bệnh hoặc nuôi các con nhỏ đều dựa vào hàng rong.
Riêng ông Nguyên với thâm niên hơn mười năm bán hàng trái cây ở Hà Nội, ông phải thừa nhận người Hà Nội chuộng trái cây hơn bất kì nơi nào khác, nếu như người miền Nam có thói quen ăn hoa như hoa điên điển, hoa bèo, hoa súng, người miền Trung lại quen ăn cây như các loại rau cải thì người miền Bắc, đặc biệt là người Hà Nội có thói quen ăn củ quả. Và cũng nhờ vào thói quen này mà nghề bán trái cây dạo của ông chưa bao giờ thất nghiệp, chỉ có những ngày mệt và mùa mưa thì ế ẩm hơn đôi chút nhưng vẫn sống được.
Thế nhưng trong thời gian gần đây, do tình hình kinh tế nói chung, khách hàng mua trái cây của ông cũng có giảm đi ít nhiều. Nếu như trước đây người ta sẵn sàng vung tay mua ngay ba ký táo, hoặc vài ký nhãn thì bây giờ, có vẻ như họ lựa chọn, cân nhắc cẩn thận và cuối cùng chỉ mua từ một đến hai ký. Theo nhận định của ông Nguyên là do tình hình kinh tế đang ngày càng xấu đi nên sức mua sắm cũng giảm hẳn. Ngay ở thủ đô còn thế, huống gì những nới khác, có lẽ sức mua còn tệ hơn nhiều.
Nếu như trước đây, chuyện mỗi ngày kiếm được từ một trăm đến một trăm rưỡi ngàn đồng không khó lắm đối với ông Nguyên thì hiện tại, kiếm được một trăm ngàn đồng mỗi ngày là cả một sự may mắn lớn đối với người bán hàng rong, trong đó có ông Nguyên. Thậm chí, có ngày ông chỉ kiếm được chưa đầy ba chục ngàn đồng, chỉ đủ để mua một ký gạo, nửa lạng cá cơm khô, một bó rau muống và còn dư vài ngàn đồng để tích lũy phòng khi trái gió trở trời.
Dường như những người bán hàng dạo, hàng rong ở Hà Nội đều có cuộc sống kham khổ, tủi buồn giống nhau và cũng có ước mơ con cái thành đạt để đổi đời tựa giống nhau, nếu không muốn nói thêm là thấp cổ bé miệng, số tiền kiếm được cũng nhỏ như nhau và trên hết là họ giống như hiện thân của những kiếp cần lao rơi rớt giữa chợ đời, giữa phố thị sầm uất, phồn thịnh và xa hoa vào bậc nhất đất nước.


__._,_.___

Posted by: Dien bien hoa binh

Dầu ăn bẩn từ Đài Loan đã được nhập vào Việt Nam


Dầu ăn bẩn từ Đài Loan đã được nhập vào Việt Nam

RFA-15-09-2014

Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ
In trang này
Việt Nam ở trong số 12 quốc gia và vùng lãnh thổ đã nhập khẩu dầu ăn bẩn của một Công ty Đài Loan, vụ đưa sản phẩm độc hại ra thị trường  từng gây chấn động dư luận từ cuối tháng 8 vừa qua.
Theo VnExpress Cục An toàn thực phẩm Việt Nam xác nhận thông tin và cho biết đã nhận được cảnh báo từ nhà chức trách Đài Loan.
Trước đó phía Đài Loan cho biết sản phẩm dầu ăn làm từ dầu thải bỏ trộn mỡ heo của Công Ty Chang Guann ở Cao Hùng, ngoài việc tiêu thụ ở Đài Loan còn được xuất khẩu qua Việt Nam, Mỹ, Pháp, Australia, New Zealand, Brazil, Chile, Argentina, Argentina, Nam Phi, Singapore Hong Kong và Trung Quốc.
Trong vòng 6 tháng vừa qua, Công ty Chang Guann đã tiêu thụ tất cả 782 tấn dầu ăn bẩn tại Đài Loan và xuất khẩu ra nước ngoài. Chang Guann đã bị phạt 50 triệu Đài Tệ tương đương 1,67 triệu đô la Mỹ, ông Yeh Wen-Hsiang Chủ tịch Công ty đã bị bắt giữ hôm 13/9.



__._,_.___

Posted by: Dien bien hoa binh 

My Blog List