Hình ảnh nói lên: Sự kiện Tội Ác Việt Cộng ! ! !






https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEj6kLmYKa-hPj1HvFQ9_a90KHJhUV_iUMIMpX4OuUtcp6iY8tidLohE38X7ObP2c42O5V9-qDdwu0FmyTgJjcSZI_uM_-UibAiDC_1ucag_fkHs2pV3BymecImeC0W5_uks9TF3NPCej5k/s1600/babui-danlambao-%C4%90a%CC%82%CC%81t+nu%CC%9Bo%CC%9B%CC%81c+la%CC%80+ca%CC%81i+%C4%91uo%CC%82i+sam1.jpg








Monday, October 21, 2013

Chủ nghĩa tư bản nhà nước ở Việt Nam


 

Chủ nghĩa tư bản nhà nước ở Việt Nam


Một thỏa thuận thương mại do Mỹ dẫn dắt có giúp gì cho các nhà cải cách Việt Nam hay không?


The Economist, Oct 19th 2013

Phạm Nguyên Trường dịch

Một số người cho rằng, nền kinh tế Việt Nam đang chuyển động khá nhanh. Tốc độ lạm phát với hai con số trong năm 2011 đã đã bắt đầu hạ nhiệt, còn kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may và hàng điện tử thì đang gia tăng nhanh chóng. Đầu tư trực tiếp nước ngoài tăng 36% mỗi năm, đấy là theo đánh giá của cơ quan xếp hạng, có tên là Fitch.

Nhưng, GDP lại gia tăng khá chậm: năm ngoái chỉ đạt 5%, thấp nhất kể từ năm 2009. Rắc rối phần lớn là do đảng Cộng sản cầm quyền thất bại trong việc ép các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) tuân thủ kỷ luật và không xử lý được những khoản nợ xấu trong trong các ngân hàng. Cũng như nước láng giềng Trung Quốc, các ông trùm trong đảng và đàn em của họ không muốn thay đổi hiện trạng vì nó có lợi cho họ.

Nhưng, muốn có tính hợp pháp thì chính phủ phải cải thiện được cuộc sống của người dân trong cái đất nước có tới 90 triệu người này. Trong mấy tháng gần đây, các quan chức bắt đầu tung ra kế hoạch cải cách kinh tế quan trọng. Dấu hiệu đáng khích lệ gồm có Nghị quyết của Bộ Chính trị hồi tháng Tư, coi hội nhập kinh tế là ưu tiên hàng đầu; và những cuộc tranh luận gần đây của các nhà làm luật của Việt Nam về biện pháp “cổ phần hóa” hay tư nhân hóa một phần doanh nghiệp nhà nước. Tháng 9 vừa rồi Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng cũng cam kết sẽ xử lý 1.300 doanh nghiệp nhà nước như các công ty tư nhân và tăng mức cổ phần trong các ngân hàng mà các nhà đầu tư ngoại quốc có thể sở hữu lên từ 30% đến 49%.

Một nhà ngoại giao phương Tây nói rằng hiện nay vấn đề không phải là có cải cách hay không mà là cải cách sẽ diễn ra nhanh đến mức nào. Nếu đúng như thế thì tốc độ thay đổi có thể phụ thuộc vào Quan hệ đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP), tức là phụ thuộc vào Thỏa thuận thương mại tự do của hơn một chục nước do Mỹ lèo lái, đang được trù liệu. Ngoài những vấn đề khác, TPP sẽ yêu cầu các thành viên kiềm chế những hành động thái quá của doanh nghiệp nhà nước.

Việc TPP tập trung chú ý vào doanh nghiệp nhà nước tạo ra vỏ bọc chính trị cho các nhà lập pháp có tinh thần cải cách của Việt Nam, để họ có thể theo đuổi chương trình nghị sự của mình, một nhà kinh tế học là ông Phùng Đức Tùng nói như thế. Họ sẽ đi xa đến đâu vẫn là một câu hỏi mở, nhưng ông Tùng cho rằng tư nhân hóa hầu hết các DNNN sẽ thúc đẩy mạnh mẽ nền kinh tế và tạo được nền tảng thuế khóa vững chắc hơn.

Doanh nghiệp nhà nước, chiếm 40 % sản lượng kinh tế, đang có nguy cơ gắn chặt với các ngân hàng quốc doanh – tức là gắn với những người cho vay từng tài trợ cho việc tham gia vào thị trường bất động sản đầy rủi ro trong vụ bùng nổ kèm theo việc Việt Nam gia nhập WTO vào năm 2007.

Hiện nay, doanh nghiệp nhà nước đang tích cực “tái cơ cấu”, báo chí do nhà nước kiểm soát nói như thế. Không có người nào tin rằng những khoản tín dụng khổng lồ sẽ tái diễn. Tuy nhiên, các doanh nghiệp nhà nước vẫn hoạt động không hiệu quả, một số nợ nần chồng chất đến nỗi không có tiền trả lương cho nhân viên.

Không có gì tốt đẹp cho hàng trăm ngàn thanh niên đang bước vào thị trường lao động thiếu sinh khí của Việt Nam, những người đang chán ngấy nạn tham nhũng và bất bình đẳng còn đáng buồn hơn thế. Cùng với tâm trạng thất vọng về hệ thống giáo dục, y tế và chính sách về quyền sử dụng đất, những vấn đề đó có thể là nhiên liệu cho một vụ bùng nổ xã hội trong một ngày nào đó.

Trong khi đó, các nhà đàm phán trong lĩnh vực thương mại của Mỹ đang nóng lòng muốn kết thúc những cuộc đàm phán TPP. Sự hấp dẫn đối với Việt Nam là một số ngành công nghiệp sử dụng nhiều lao động như may mặc và giày dép sẽ dễ tiếp cận hơn với thị trường Mỹ. Nhưng đại sứ Mỹ ở Việt Nam, ông David Shear, nói rằng nước này cần phải thể hiện “sự tiến bộ rõ ràng” về nhân quyền để có thể giúp cho dư luận Mỹ ủng hộ họ tham gia vào TPP. Về mặt này, việc luật sư nhân quyền Lê Quốc Quân bị phạt tù vì tội danh trốn thuế giả mạo sẽ chẳng giúp được gì. Mặc dù vậy, rất có thể hai bên sẽ ký thỏa thuận trong năm tới.


 

 

 

Dân chủ và lối thoát


 

Dân chủ và lối thoát


Nguyễn Trung Hiếu


Hiện nay trong quá trình cải cách người ta luôn bám vào những học thuyết cũ kỹ với những sự sửa đổi nhỏ lẻ thực ra không có giá trị mấy về mặt dân sinh và dân chủ. Nhưng để bám víu lấy quyền lợi của mình thì không gì có sức mạnh bằng sự ăn mày dĩ vãng đáng buồn phiền và ấu trĩ ấy.

Thực ra trên thế giới đã có nhiều bài học của các quốc gia độc tài từ trước tới nay. Thường họ sẽ bám víu vào một chủ thuyết, một tôn giáo nào đó một cách mập mờ để duy trì quyền thống trị của họ. Châu Âu đã chìm trong đêm trường Trung cổ bởi giáo hội, Á Đông thì là học thuyết của Khổng Tử với đạo quân thần…

Có lẽ cuộc cách mạng khoa học kỹ thuật sớm diễn ra trên lục địa già với trung tâm là nước Pháp với nhiều học giả uyên bác đã thực sự làm sáng bừng văn minh nhân loại. Trong quá trình khởi phát quá trình dân chủ đã không biết bao cuộc đấu tranh nổ ra, bao nhiêu những lý lẽ của nhà cầm quyền cũ nát được đưa ra nhưng chân lý cuối cùng đã thuộc về kẻ tiến bộ hơn.

Người dân Châu Âu cuối cùng đã tìm ra một cơ chế gần hơn với cái chóp đỉnh của xã hội loài người. Người ta đã và đang dần hoàn thiện nó với sự mở rộng dân chủ và mong muốn mọi đóng góp của người dân với sự cầu thị rất lớn từ phía chính quyền. Những Thiên đường đang chớm nở mà có lẽ trước đây trong mơ người ta mới dám nghĩ tới. Đại diện tiêu biểu của nó là các nước Bắc Âu mặc dù chưa hoàn hảo nhưng đáng để cho mọi quốc gia học tập.

Hiện nay trên thế giới làn sóng dân chủ đã và đang diễn ra rất mạnh mẽ, nó cuốn phăng đi rất nhiều quốc gia độc tài, nó đã và đang thể hiện ước vọng của người dân nhiều nước trên thế giới và xu hướng này đã và đang lan mạnh sang những thành trì tưởng chừng là bất khả xâm phạm của phái bảo thủ cổ hủ và độc tài nhất. Những cuộc cách mạng màu, những cuộc biểu tình rầm rộ trên những đại lộ rợp bóng người đã kéo theo nó những giá trị phổ quát của xã hội loài người, trang hoàng lại những bức tranh u tối trên mỗi dân tộc nó đi qua.

Mỗi cuộc cách mạng đều có máu, những giá trị của loài người mong mỏi đôi khi lại phải trả bởi những cái giá có khi là khá đắt đỏ. Những cuộc chính biến tại các quốc gia có khi lại phải chịu những hậu quả rất lớn về mặt con người. Máu và hoa, máu và độc lập, máu và hoà bình, máu và dân chủ tưởng chừng như chẳng liên quan tới nhau vậy mà nó vẫn luôn song hành với nhau. Kèm theo đó là những vấn đề tôn giáo sắc tộc, những cuộc đấu tranh nội bộ sẽ luôn đi kèm với quá trình ấy nếu như nền dân chủ non trẻ ấy không đủ mạnh thì nó lại sẽ là mầm mống của thể chế độc tài tiếp theo. Các thể chế độc tài thì luôn biết cách khai thác những vấn đề này để ru ngủ người dân trong tầm kiểm soát của họ.

Những mặt đối lập luôn song hành, cuộc sống muôn màu luôn là vậy. Những nhà tri thức, những nhà dân chủ tiến bộ luôn mong có một cuộc chuyển giao hoàn hảo mà máu sẽ không đượm trên những cánh hoa dân chủ như Myanmar đã từng trải qua. Mọi cuộc chính biến bằng bạo lực thì thua thiệt luôn thuộc về dân tộc quốc gia ấy, dù một lần đau thì ai biết nó có mang dị tật hay không trong tương lai về sau. Nhưng cũng có một câu hỏi được đặt ra nếu cứ sống với bệnh tật không chữa trị một cách dứt khoát thì dân tộc ấy sẽ ngày càng èo uột và hậu quả cho hậu thế là không lường. Vậy người ta có thể mong gì, mong một ngày phe bảo thủ sẽ trở lại với dân tộc, sẽ tự mở lòng mình đóng góp cho chính quá trình dân chủ trên đất nước này? Tham sân si trong cuộc đời này khó tránh, để bỏ mọi ngôi cao đi kèm với quyền hành và bổng lộc thì thật khó. Lòng mình đôi khi khó mở…

Vậy đâu là con đường tối ưu cho quá trình dân chủ hoá trên đất nước này. Thân Nhân Trung đã từng nói “hiền tài là nguyên khí quốc gia”. Những người mong mỏi một nền dân chủ thực sự trong nước và mơ ước một Việt Nam thịnh vượng thực sự luôn mong chờ những tầng lớp là hiền tài ấy. Tôi luôn tin và mong chờ những tinh hoa của dân tộc sẽ mang cho dân tộc này những hơi thở mạnh mẽ đóng góp cho quốc gia này. Tôi mong họ hãy có tiếng nói mạnh mẽ hơn, thể hiện hơn nữa cái tầm cái tâm của mình. Nhân sĩ thời nào cũng có, quốc nội và hải ngoại, nhưng có vẻ chất keo kết dính giữa họ vẫn thiếu và không đủ độ bền. Nếu thực sự các nhân sĩ hải ngoại có thể đồng lòng cùng hoà nhịp với những học giả tiến bộ trong nước thì đó là một tiếng nói quan trọng với quá trình vận động xã hội theo xu hướng tiến bộ.

Làn sóng dân chủ vẫn cứ rầm rập đi trên những đại lộ rộng mở của lịch sử thế giới. Và mỗi quốc gia dân tộc không thể hy vọng vào một điều thần kì hay sự trợ giúp của bất kỳ quốc gia nào hay thế lực nào. Xã hội sẽ phải thay đổi, tầm nhìn của một quốc gia một dân tộc sẽ thay đổi. Những tri thức sẽ là điểm tựa vững chắc để dân tộc ấy đón những ánh nắng rạng ngời của Văn minh nhân loại.

Hạnh phúc chưa chắc trọn vẹn khi có dân chủ, nhưng độc tài thì chắc chắn không có điều ấy.

Tôi luôn tin một ngày nào đó…

N.T.H.

Tác giả gửi trực tiếp cho BVN

__._,_.___

Thạc sỹ thất nghiệp - Vì đâu nên nỗi?


 

On Sunday, October 20, 2013 8:01 PM, Dien bien hoa binh <> wrote:

 

Thạc sỹ thất nghiệp - Vì đâu nên nỗi?


Trường Yên

Gửi cho BBC từ Hà Nội

Cập nhật: 15:12 GMT - chủ nhật, 20 tháng 10, 2013


Giáo dục Việt Nam

Việt Nam cam kết đặt giáo dục là ưu tiên hàng đầu của phát triển

Trong giai đoạn khó khăn của nền kinh tế, tình trạng thất nghiệp gia tăng là điều tất yếu. Điều này thể hiện rõ tính cung cầu lao động trong nền kinh tế thị trường.

Không riêng gì tại Việt Nam, mà nhiều quốc gia trên thế giới cũng gia tăng nạn thất nghiệp do khủng hoảng kinh tế toàn cầu trong thời gian qua.

 


Báo chí đã nói rất nhiều về tình trạng lao động chất lượng cao bị thất nghiệp, hoặc phải nhận những công việc không tương xứng với bằng cấp được đào tạo. Chẳng hạn như hàng nghìn cử nhân thất nghiệp ở Nghệ An, gần 25.000 sinh viên ra trường thất nghiệp ở Thanh Hóa, cả nghìn cử nhân làm công nhân tại một doanh nghiệp ở Đà Nẵng,...

Không chỉ cử nhân thất nghiệp, mà cả thạc sỹ cũng thất nghiệp. Nhiều bài báo đã nêu lên những trường hợp thạc sỹ thất nghiệp đi bán sim điện thoại, ở nhà nội trợ, thậm chí đi phụ xe để lấy tiền xin việc hoặc đi làm công nhân thời vụ.

Đâu là nguyên nhân của vấn đề này?

Theo Luật giáo dục, mục tiêu của đào tạo thạc sỹ là “giúp học viên nắm vững lý thuyết, có trình độ cao về thực hành, có khả năng làm việc độc lập, sáng tạo và có năng lực phát hiện, giải quyết những vấn đề thuộc chuyên ngành được đào tạo” (điều 39). Đồng thời, yêu cầu chất lượng thạc sỹ được đào tạo phải “nâng cao những kiến thức đã học ở trình độ đại học; tăng cường kiến thức liên ngành; có đủ năng lực thực hiện công tác chuyên môn và nghiên cứu khoa học trong chuyên ngành của mình” (điều 40).

"Cũng không tránh khỏi sự háo danh về bằng cấp như dân gian vẫn thường nói “nghèo cũng cố cho con học đại học”. Chính họ, tự dồn mình vào con đường tự ti và bế tắc"

Thế nhưng, những trường hợp thạc sỹ thất nghiệp được báo chí nêu ra hình như không đúng với mục tiêu và chất lượng đào tạo. Các ‘thạc sỹ thất nghiệp’ này đều cùng lý do không xin được việc sau khi tốt nghiệp đại học nên học tiếp để hy vọng bằng thạc sỹ sẽ xin việc dễ hơn. Đây cũng là lý do của phần lớn những người đi học cao học ngay sau khi tốt nghiệp.

Rõ ràng, mục tiêu đào tạo thạc sỹ là tạo ra lực lượng lao động có chuyên môn sâu về chuyên ngành, có khả năng làm việc độc lập, sáng tạo trong chuyên môn và có khả năng nghiên cứu khoa học.

Thế nhưng, hầu hết lý do học cao học là để dễ xin việc như nói ở trên cho thấy, mục tiêu đi học của những người này không đồng nhất với mục tiêu của đào tạo thạc sỹ. Vì thế, không thấy những người này khẳng định một cách thẳng thắn về năng lực chuyên môn lẫn khả năng sáng tạo và nghiên cứu khoa học để phủ nhận việc loại hồ sơ của họ là bất hợp lý ngoài việc khẳng định họ có bằng thạc sỹ.

Thêm nữa, hầu hết chỉ thấy các thạc sỹ này nộp đơn xin việc vào các vị trí công chức, viên chức của các cơ quan nhà nước. Rõ ràng, các vị trí công chức hành chính lẫn chuyên môn ở từ cấp xã/phường đến cấp sở không cần bằng thạc sỹ. Cũng như các vị trí viên chức trong các trường tiểu học và phổ thông, các đơn vị hành chính sự nghiệp cũng không cần đến bằng thạc sỹ.

Có một điều bất nhẫn là hầu hết những ‘thạc sỹ thất nghiệp’ được báo chí nêu trên đều có gia cảnh khó khăn, gia đình phải vay mượn tiền để cho họ đi học. Và khi học xong, không tìm được việc làm thì nợ lại chồng nợ.

'Cao học làm gì?'


Giáo dục Việt Nam

Tác giả đặt câu hỏi về mục đích của việc theo học cao học của giới trẻ

Không biết sự thật mà báo chí nêu đến đâu, nhưng nếu thực sự là như vậy thì những gia đình này, những ‘thạc sỹ’ này đều có cái nhìn thiển cận về bằng cấp và công việc. Cũng không tránh khỏi sự háo danh về bằng cấp như dân gian vẫn thường nói “nghèo cũng cố cho con học đại học”. Chính họ, tự dồn mình vào con đường tự ti và bế tắc.

Vậy, họ cố gắng lấy bằng thạc sỹ để làm gì nếu không có mục tiêu làm việc tại các cơ quan nghiên cứu, hoặc giảng dạy sau phổ thông? Họ vay tiền để đi học làm gì nếu ra trường không xin được công việc đúng với chuyên môn và bằng cấp?

Họ học cao, nhưng tư duy và trình độ có thực sự cao? Bằng cấp có tương xứng với năng lực?

Như đã nêu ở trên, không thấy các ‘thạc sỹ thất nghiệp’ này khẳng định có đủ năng lực chuyên môn lẫn kiến thức liên ngành, có đủ năng lực làm việc độc lập và nghiên cứu khoa học. Vì vậy, dư luận hoàn toàn có thể đặt ra câu hỏi: Bằng thạc sỹ của họ có tương xứng với năng lực thực sự của họ hay không?

Mỗi chuyên ngành học đều có những đặc thù về nghề nghiệp, và một người có trình độ cao sẽ khai thác được đặc thù đó trong quá trình tìm kiếm công việc lẫn tạo ra thu nhập của mình bằng đúng chuyên môn đã được đào tạo.

Đơn cử trường hợp cô thạc sỹ văn chương mà báo chí nêu trong thời gian qua phải xin đi làm công nhân thời vụ. Một thạc sỹ văn chương loại giỏi hoàn toàn có đủ khả năng làm việc độc lập bằng chuyên môn như có thể đi dạy hợp đồng tại các trường phổ thông, ĐH, CĐ hoặc cộng tác với các báo, tạp chí chuyên ngành để viết bài nghiên cứu, bài báo, thậm chí viết bài đưa tin.

Thực tế trong xã hội đã cho thấy những công việc như vậy không quá khó nếu họ có năng lực thật sự tương ứng với bằng cấp. Hiện tại, không ít các sinh viên đã làm những việc như vậy khi còn đang ngồi trong giảng đường.

Vậy, tại sao một thạc sỹ văn chương loại giỏi không làm được như vậy mà phải đi làm công nhân thời vụ? Rõ ràng, chỉ có thế là kiến thức thực sự của họ không tương xứng với tấm bằng.

Sẽ có người đặt câu hỏi rằng, không phải ai cũng viết bài chuyên môn, viết báo được, hoặc xin đi dạy hợp đồng cũng không dễ. Nhưng xin thưa, điều này hoàn toàn không khó khăn đối với một thạc sỹ văn chương loại giỏi. Nếu không làm được điều này, chỉ có thể là năng lực của họ không xứng đáng với tấm bằng, hoặc có vấn đề trong quá trình đào tạo và cấp bằng của các trường đại học.

Trên đây chỉ phân tích một trường hợp cụ thể. Các ngành nghề khác cũng có tính chất tương tự, nghĩa là mỗi ngành đều có một đặc thù riêng trong xã hội, và người có chuyên môn không khó để kiếm việc nếu giỏi thật sự. Tất nhiên, cũng không loại trừ một số lĩnh vực hẹp, và sẽ có những người giỏi khó kiếm việc. Nhưng là khó chứ không phải không thể.

'Việc làm nhà nước?'


"Hầu hết các thạc sỹ đều muốn vào làm việc trong khu vực nhà nước... Phải chăng khu vực ngoài nhà nước không có chỗ cho năng lực và bằng cấp của họ?"

Nhu cầu lao động chất lượng cao là cần thiết trong tiến trình phát triển kinh tế - xã hội. Nhu cầu này cần thiết cho cả nền kinh tế quốc dân, nghĩa là cần thiết cho cả các tổ chức, doanh nghiệp khu vực tư nhân chứ không chỉ dành riêng cho khu vực nhà nước.

Trong tiến trình cải cách đất nước theo hướng hội nhập và phát triển ở Việt Nam. Khu vực nhà nước sẽ thu hẹp lại ở lĩnh vực quản lý hành chính nhà nước. Các doanh nghiệp nhà nước, các đơn vị sự nghiệp có thu sẽ chuyển sang cổ phần hóa có vốn nhà nước hoặc tư nhân hóa toàn bộ. Những lĩnh vực công như giáo dục, y tế, khoa học công nghệ cũng không nằm ngoài xu hướng này.

Hiện tại, lao động chất lượng cao của nước ta chưa đáp ứng được nhu cầu của xã hội. Chất lượng đầu ra của các trường đại học, cao đẳng chưa đáp ứng được yêu cầu thực tế. Rõ ràng, các trường này cũng như những người học phải xác định rõ đào tạo như thế nào và học cái gì để đáp ứng yêu cầu đó.

Như vậy, có thể thấy nếu một người được đào tạo đảm bảo chất lượng, có đầy đủ kiến thức chuyên ngành và tư duy tương xứng với bằng cấp, thì không khó kiếm một công việc, kể cả khi tỷ lệ thất nghiệp gia tăng như trong thời gian qua.

Thế nhưng, hầu hết các thạc sỹ đều muốn vào làm việc trong khu vực nhà nước như đã nêu ở trên. Phải chăng khu vực ngoài nhà nước không có chỗ cho năng lực và bằng cấp của họ?

Kinh tế Việt Nam

Nhiều người có bằng cấp ở VN làm các công việc khác với chuyên môn được đào tạo, theo tác giả

Có thể thấy, hầu hết các ‘thạc sỹ thất nghiệp’ được báo chí đề cập đều không phải thuộc các lĩnh vực kỹ thuật, công nghệ. Và rõ ràng cơ chế tuyển dụng lao động ở khu vực ngoài nhà nước rất sòng phẳng, minh bạch, không cần tiền “bôi trơn”, không quá quan tâm đến bằng cấp, cũng như mức thu nhập sẽ cao hơn nhiều khu vực nhà nước.

Vậy tại sao họ lại cố gắng vào nhà nước, trong khi biết rõ cơ chế làm việc của phần lớn các đơn vị, cơ quan nhà nước còn nhiều bất cập trong phân công lao động, vẫn còn hiện tượng ưu tiên con ông cháu cha, vẫn còn hiện tượng bỏ tiền để “chạy việc”. Thậm chí, để hoàn thành giấc mơ đó, có thạc sỹ chấp nhận đi làm phụ xe để dành tiền đi xin việc.

Rõ ràng, có một sự mâu thuẫn đối với các thạc sỹ này, họ muốn nhận được công việc tương xứng với bằng cấp, nhưng lại không thể hiện được năng lực làm việc tương ứng. Trong khi, khu vực ngoài nhà nước hoàn toàn có thể cho họ cơ hội thể hiện điều đó. Phải chăng, họ chỉ dám nộp đơn xin việc vào cơ quan nhà nước vì chỉ dựa được vào tấm bằng?

Vấn đề ‘thạc sỹ thất nghiệp’ sẽ còn nhận được nhiều đánh giá, nhận định khác nhau trong xã hội. Và người viết cũng chỉ đề cập các quan điểm trên theo thực tế chung chứ không phải đúng hết với mọi đối tượng, mọi nghành nghề trong xã hội.

Tuy nhiên, có thể thấy rõ sự bất cập trong công tác đào tạo lao động chất lượng cao và nhu cầu của xã hội. Đồng thời, không thể không nói đến chất lượng và định hướng của công tác đào tạo.

Tiên trách kỷ, hậu trách nhân. Trước hết, các thạc sỹ này nên tự nhìn nhận và đánh giá năng lực của mình, trước khi đổ lỗi cho cho nguyên nhân khách quan từ cơ chế, chính sách của nhà nước.

Bài viết phản ánh quan điểm riêng và lối hành văn của tác giả, người đang sinh sống ở Hà Nội.

 

 

 

My Blog List