Hình ảnh nói lên: Sự kiện Tội Ác Việt Cộng ! ! !






https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEj6kLmYKa-hPj1HvFQ9_a90KHJhUV_iUMIMpX4OuUtcp6iY8tidLohE38X7ObP2c42O5V9-qDdwu0FmyTgJjcSZI_uM_-UibAiDC_1ucag_fkHs2pV3BymecImeC0W5_uks9TF3NPCej5k/s1600/babui-danlambao-%C4%90a%CC%82%CC%81t+nu%CC%9Bo%CC%9B%CC%81c+la%CC%80+ca%CC%81i+%C4%91uo%CC%82i+sam1.jpg








Sunday, March 13, 2016

“CHUYỆN ĐÒI TIỀN CHUỘC ” TRONG DU LỊCH VIỆT NAM.




---------- Forwarded message ----------
From: Thang nguyen


“CHUYỆN ĐÒI TIỀN CHUỘC ”  TRONG DU LỊCH VIỆT NAM.
Phạm Chí Dũng

Ngày 10/11/2015, lại thêm một chấn động về chủ nghĩa thực dụng đang tung hoành trong nền du lịch “đậm đà bản sắc dân tộc” ở Việt Nam: câu chuyện một phụ nữ Anh bị đòi tiền chuộc chiếc máy ảnh mà chị làm rơi ở Quảng Bình được tường thuật lại trên báo Anh Daily Mail. Ngay lập tức, bài báo này nhận được rất nhiều bình luận từ độc giả trên khắp thế giới. Rất nhiều ý kiến chê trách lòng tham của người Việt.

Nhiều độc giả tỏ ra hoàn toàn không hài lòng về Việt Nam bởi “một đất nước đầy rẫy trộm cắp” và nạn vòi tiền du khách diễn ra phổ biến, và nói sẽ không quay trở lại.
“Thật đáng buồn, du khách ở Việt Nam bị coi như những cây ATM di động”, độc giả có nickname “EvilPoppet” của Australia bình luận.

‘Những tên cướp biển Viking’
Transtroemer là một người đàn ông Thụy Điển gần năm chục tuổi, khuôn mặt với bộ râu quai nón nhộn nhạo luôn phảng phất vẻ hóm hỉnh. Vào lần thứ hai cùng gia đình du lịch đến Việt Nam, ông đã không còn được hưởng cái thú đi dạo yên bình như lần trước. Vợ ông, vốn quen phong cách phụ nữ Bắc Âu với cái túi xách trễ nải mà “không khép thật chặt khuỷu tay”, đã bị hai kẻ đi xe gắn máy lao lên lề đường giật mất cái túi. Vào lúc ấy, gia đình họ đang hớn hở tắm mình trong cái nắng nhiệt đới.

Cảnh tượng quá đỗi kỳ quái đó lại diễn ra ngay tại một trong những đường phố đẹp nhất ở trung tâm Sài Gòn.

Cả gia đình Transtroemer đứng như trời trồng, không hiểu chuyện gì xảy ra. Phải sau vài ngày và khi đã trấn tĩnh lại, ông mới buột ra: “Trước khi xin visa du lịch vào Việt Nam năm nay, tôi đã nghe sứ quán cảnh báo về nạn cướp giật. Bạn bè của tôi, những người đã ít nhất một lần đến Việt Nam, cũng cho những lời khuyên. Nhưng không ngờ ở đây lại bị cướp táo bạo đến thế. Không khác gì những tên cướp biển Viking…”.

Đúng là một ví von hóm hỉnh. Nhưng trong lúc ông khách du lịch Thụy Điển cố tỏ ra hài hước để trấn an những người bạn Việt, chính người bản xứ lại càng có lý do để chua xót.
Đã không chỉ một lần họ được nghe những người bạn nước ngoài than thở về câu chuyện tương tự. Cũng không chỉ một lần, bản thân họ hoặc bất cứ ai trong số họ đã chứng kiến người thân của mình bị trộm hoặc bị cướp trắng trợn ngay tại Thủ đô Hà Nội hay ở Sài Gòn.

Natalia Krupskaia, một nữ du khách Nga thường đến Hà Nội kết hợp với công việc kinh doanh cá hồi, còn ngạc nhiên một cách thành thật bởi một thành phố có bề dày “ngàn năm văn hiến”, nhưng lại “hở ra một cái là bị mất đồ ngay”. Với người đàn bà chịu học tiếng Việt này, thật khó hiểu là với tình hình an ninh như thế, hàng năm Việt Nam lại có thể đón tiếp đến trên 8 triệu khách du lịch nước ngoài – như một con số của ngành du lịch nước này công bố mà cô không mấy tin tưởng vào độ xác thực của nó.

Cũng đã từng vài lần đến Sài Gòn, tuy chưa lâm vào hoàn cảnh như gia đình Transtroemer, nhưng Natalia không thể không chú ý đến không khí căng thẳng luôn thường trực tại nhiều khách sạn tại khu trung tâm. Thậm chí qua báo chí Việt, Natalia còn biết là hàng năm có đến hai trăm rưỡi vụ cướp giật xảy ra tại các khách sạn trung tâm Sài Gòn, nhưng số vụ được cảnh sát phát hiện manh mối và truy bắt được thủ phạm lại hầu như không đáng kể.

Chỉ mới vào tháng 10/2015 ở Sài Gòn, một công dân Đức là Sepastian Gretz khi cùng bạn gái ra khu vực bờ kè kênh Tàu Hủ ngồi hóng mát, đã bất ngờ có một nhóm thanh niên xông đến dùng dao chém anh bị thương, sau đó lục túi cướp tiền và điện thoại di động, rồi tẩu thoát.

Nạn cướp giật du khách nước ngoài đã đẩy lên mức độ “chém trước cướp sau”.

Thế thì làm sao mỗi năm thành phố này có thể thu hút đến ba triệu rưởi khách du lịch nước ngoài – điều được các quan chức và doanh nghiệp du lịch Sài Gòn cho là “cứu cánh” mà có thể mang lại doanh thu đến 49.000 tỷ đồng?

Điều đáng nói là ngày càng có nhiều khách du lịch nước ngoài am hiểu về mặt trái xã hội đương đại ở Việt Nam. Cái được gọi là “văn hóa bún mắng cháo chửi” ở Hà Nội cũng đã được người ta biết đến không chỉ như một câu chuyện bông đùa.

‘Ghét Việt Nam’
Một nữ Việt kiều là chị Phương Thảo, sau nhiều lần trở về quê hương, đã buồn bã và chua chát: Việt Nam có gì để tự hào?

Chỉ cần gõ lên trạng mạng tra cứu dòng chữ “tôi không bao giờ quay trở lại Việt Nam” sẽ thấy rất nhiều bài báo hay các blog được liệt kê. Những bài này do các blogger chuyên về du lịch viết và được đăng trên các trang chuyên mục về du lịch nổi tiếng có nhiều người theo dõi. 

Một trong những người đó có thể kể đến Nomadic Matt, Derek4real hay thậm chí trên diễn đàn của Tripadvisor- một trang mạng chuyên cho lời khuyên đến du khách – cũng có riêng một mục nói đến những trải nghiệm xấu ở Việt Nam.

Cũng có đây đó các ý kiến phản biện, cho rằng họ có phần hơi phiến diện, nhưng điều đáng buồn là số người đồng ý không hề nhỏ, và họ còn nói rằng họ ghét Việt Nam. Không phải họ ghét người Việt mà chỉ vì ghét những gì đã phải trải qua và chứng kiến. Điều đáng buồn là những nhận xét này không thay đổi theo thời gian (tính từ năm 2003 cho đến 2014).

Điều mà ai cũng nói đến – đó là sự thiếu trung thực, hay nói thẳng ra là nói dối và lừa đảo. Ở đâu cũng có người này người kia, ở đâu cũng có vấn nạn lừa đảo du khách, song mức độ lừa đảo và nói dối ở Việt Nam đã lên hàng đầu. Du khách bị lừa ngay khi từ sân bay hay bến xe bước chân lên taxi. 

Sự thiếu trung thực còn thể hiện ở việc du khách nước ngoài luôn phải trả giá cao hơn người Việt Nam gấp nhiều lần. Nhiều người cho rằng trả số tiền như vậy vẫn rẻ hơn so với nơi họ đang sống, nhưng cảm giác bị đối xử như vậy làm cho họ cảm thấy không được tôn trọng.

Nhiều người Việt cho rằng Tây phải bị chặt chém là chuyện thường và thậm chí còn cho rằng Tây là những con “lợn béo”. Có thể Tây không hiểu được tiếng Việt, nhưng họ có óc quan sát và họ thừa biết họ phải móc nhiều tiền hầu bao để trả cho cùng một món hàng. Những ví dụ cụ thể được đưa ra với cả số tiền họ phải trả cho dịch vụ không đáng có từ việc vá vỏ xe, hay kéo xe bị thủng lốp đi đến chỗ vá, cho đến việc mua trái cây hay một lon nước ngọt, hay cả việc không có tiền thối lại hoặc thối lại tiền thừa không đúng, hay đến việc bị ép phải cho tiền phí phụ vụ. Câu kết luận được buông ra ở đây là người Việt tham lam và thiếu trung thực.
Trong số 7,874 triệu du khách đến Việt Nam, chỉ có 6% ít ỏi trong số du khách này hàng hài lòng với dịch vụ họ đã sử dụng.

6%!
Cũng chỉ 6% du khách nước ngoài cho biết sẽ quay trở lại Việt Nam lần hai. Tỷ lệ cực thấp này được chứng minh bởi báo cáo của Dự án Chương trình phát triển năng lực du lịch có trách nhiệm với môi trường xã hội do Liên minh Châu Âu tài trợ, khi thực hiện trưng cầu ý kiến của 3.000 du khách nước ngoài ở 5 điểm du lịch chính là Sa Pa, Hạ Long, Huế, Đà Nẵng và Hội An.

Làm giá – chặt chém, giao thông hỗn loạn, ăn xin, ăn cắp vặt và vệ sinh an toàn thực phẩm là những điều đáng sợ với du khách khi đến Việt Nam.

Chỉ đến gần đây, một quan chức cao cấp của Việt Nam là Phó Thủ tướng Vũ Đức Đam chợt than thở: “Nhìn sang Thái Lan, Malaysia, họ có 27 – 30 triệu khách/năm; Singapore cũng có 15 – 16 triệu khách. Thu nhập từ khách du lịch của Thái Lan một năm cũng 50 – 60 tỉ USD. Mình chỉ được khoảng 10 tỉ USD, khách được khoảng 8 triệu. Bây giờ đặt ra những vấn đề gì?”.


Lê Hùng's photo.






__._,_.___

Posted by: truc nguyen 

Sunday, March 6, 2016

Ngư dân Thanh Hóa biểu tình đòi biển mưu sinh


Ngư dân Thanh Hóa biểu tình đòi biển mưu sinh

RFA 04.03.2016

Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ
In trang này
thanh-hoa-nguoi-dan-tu-tap-dong-nguoi-truoc-cong-ubnd-tinh-3-1456914535
Người dân tụ tập trước cổng UBND tỉnh Thanh Hóa đòi hỏi chính quyền địa phương dành lại cho dân 500 m mặt biển để tiếp tục nghề chài lưới.
Photo courtesy of tuoitre.vn

Hàng trăm ngư dân xã Quảng Cư, thị xã Sầm Sơn, tỉnh Thanh Hóa biểu tình bên ngoài trụ sở ủy ban nhân dân tỉnh vào sáng ngày hôm qua, đòi hỏi chính quyền địa phương dành lại cho dân 500 m mặt biển để tiếp tục nghề chài lưới.
Đây là ngày thứ 7 ngư dân Thanh Hóa biểu tình phản đối quyết định của chính quyền địa phương giao cho doanh nghiệp khai thác tuyến bờ biển được coi là sầm uất nhất Sầm Sơn vào một dự án du lịch.

Báo Lao động hôm nay đưa tin cho biết hàng trăm người bao gồm cả phụ nữ và trẻ em đã tụ tập trước cổng trụ sở ủy ban nhân dân tỉnh Thanh Hóa, nằm ngồi vạ vật trong trật tự và im lặng. Họ giơ cao các tấm biển bằng bìa với những dòng chữ ‘yêu cầu chủ tịch trả lại biển cho dân’, ‘hãy trả lại biển cho dân Sầm Sơn’, ngư dân không yêu cầu bồi thường hay hỗ trợ mà chỉ cần được tiếp tục bám biển mưu sinh.

Báo chí trong nước trích lời người dân địa phương cho biết việc xây dựng dự án du lịch đã cản trở người dân khai thác thủy sản gần bờ. Người dân đã phản ánh nhiều lần lên chính quyền xã và thị xã nhưng vẫn không được giải quyết triệt để, khiến họ bức xúc.

Lãnh đạo tỉnh Thanh Hóa đã có cuộc họp báo vào hôm 2 tháng 3 thông báo về chính sách hỗ trợ ngư dân trên địa bàn bị ảnh hưởng bởi dự án. Tuy nhiên, đến lúc này tỉnh Thanh Hóa vẫn chưa có quyết định gì liên quan đến việc để lại 500 m bờ biển để dân đi đánh cá.

__._,_.___

Posted by: Dien bien hoa binh 

Friday, March 4, 2016

TPP và nỗi trăn trở của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ?

 
TPP và nỗi trăn trở của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng ?

Chính sách phát triển - Chỉ đạo điều hành) - Không ai có thể phủ nhận những đóng góp to lớn của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng trong nhiều năm qua để đưa Việt Nam gia nhập Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương (TPP). Có thể nói, TPP chính là tâm huyết, là kỳ vọng lớn nhất của Thủ tướng nhằm tạo nên “bước tiến vượt bậc” cho nền kinh tế Việt Nam.

·         >> Đạo diễn phim 'Kong: Skull Island' khoe chụp hình cùng Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng

Trong bối cảnh toàn cầu hóa và hội nhập quốc tế ngày càng sâu rộng, thị trường các nước ngày càng có nhiều yêu cầu cạnh tranh gắt gao thì nền kinh tế Việt Nam lại “là mô hình kỳ lạ nhất thế giới, phát triển quá chậm chạp nếu không muốn nói là không chịu phát triển” – một lời nhận xét hóm hỉnh “nhưng lại rất đau” từ các chuyên gia Ngân hàng Thế giới (WB) gần đây.

Trong năm 2015, tăng trưởng GDP của nền kinh tế đạt 6,68% nhưng GDP tính bình quân đầu người chỉ đạt gần 2.200 USD. Đầu tư ODA trong 20 năm qua đổ vào Việt Nam lên đến gần 90 tỷ USD thế nhưng Việt Nam vẫn nằm trong nhóm thu nhập trung bình thấp, chưa thể vượt lên hàng ngũ của các nước có trình độ phát triển cao (GDP bình quân đầu người đạt hơn 11.000 USD). Vậy thì lực cản nằm ở đâu?
Cánh cửa hội nhập đã mở, liệu chúng ta có sẵn sàng thay đổi để đáp ứng những yêu cầu trong tình hình mới hay chưa?
Cánh cửa hội nhập đã mở, liệu chúng ta có sẵn sàng thay đổi để đáp ứng những yêu cầu trong tình hình mới hay chưa?

Nhìn lại nền kinh tế, nhiều chuyên gia đã nhận ra rằng: “Không phải Việt Nam không chịu phát triển, mà đúng hơn là ‘phát triển chưa tương xứng với tiềm năng’ của chính mình”. Nhận ra lý do đó từ khá sớm, nên từ nhiều năm trước Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã chủ động mở tung cánh cửa hội nhập kinh tế quốc tế để tăng cường hiệu năng phát triển và xuất khẩu ở những nơi có thị trường mở rộng. Ông đã mạnh dạn thúc đẩy và đưa Việt Nam ký kết trên dưới 15 Hiệp định thương mại tự do (FTA) song phương hoặc đa phương với Ấn Độ, Australia và New Zealand, Hàn Quốc, Nhật Bản, Trung Quốc, Chile, Liên minh Kinh tế Á Âu, Liên minh Châu Âu (EU)… Gần đây nhất, Việt Nam đã trở thành thành viên Liên minh Kinh tế ASEAN (AEC)TPP.
Một ngày trước khi lên đường tham dự Hội nghị thượng đỉnh Mỹ – ASEAN tại California (Mỹ) hôm 15/02/2016, Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã gửi đến giới báo chí trong nước bài viết “Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương, cơ hội và thách thức – Hành động của chúng ta”, thể hiện rõ tâm huyết và kỳ vọng cao vào những cơ hội mà “bước ngoặt lịch sử” này mang lại.
Trong bài viết của mình, Thủ tướng kỳ vọng mạnh mẽ “các Hiệp định này sẽ tạo thêm xung lực mới cho phát triển kinh tế-xã hội, đặc biệt là trong thu hút đầu tư và thúc đẩy xuất khẩu với các nền kinh tế lớn nhất thế giới”, đặc biệt là EU (28 thành viên với GDP trên 18.000 tỷ USD)TPP (12 thành viên với GDP trên 20.000 tỷ USD). Đây đều là những khu vực thu hút đầu tư lớn nhất, đồng thời là thị trường xuất khẩu đầy tiềm năng của Việt Nam liên tục trong nhiều năm qua. “Nếu tính đến tác động cộng hưởng của các Hiệp định này với các FTA đã ký hoặc đang đàm phán, cơ hội còn lớn hơn nhiều vì nước ta sẽ có quan hệ thương mại tự do với 55 quốc gia, trong đó có 15 nước thuộc nhóm G20” – Thủ tướng nhấn mạnh thêm.
Gia nhập TPP là thành quả lớn nhất mà những chuyến công du từ Đông sang Tây của Thủ tướng mang về cho Việt Nam
Gia nhập TPP – “hiệp định của thế kỷ 21″ là một trong những thành quả lớn nhất mà những chuyến công du từ Đông sang Tây của Thủ tướng mang về cho Việt Nam

Các cam kết xóa bỏ lên đến gần 100% số dòng thuế với lộ trình khác nhau sẽ tạo cú huých thực sự cho xuất khẩu của Việt Nam, đặc biệt là hàng dệt may, da giày, đồ gỗ, nông sản do thuế suất giảm sâu. Chẳng hạn như hiện tại, ngành dệt may của Việt Nam xuất khẩu vào Mỹ với mức thuế trung bình là 17%, cao nhất là 32%, thì khi thuế nhập khẩu giảm xuống 0%, kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam có thể tăng mạnh.

Không những thế, Thủ tướng còn kỳ vọng TPP sẽ tạo ra một “nền tảng mới” cho kinh tế Việt Nam, thúc đẩy “hình thành mạng sản xuất và chuỗi cung ứng mới trong thị trường của 12 nước thành viên, tạo điều kiện để phát triển mạnh thương mại nội khối”

Quan trọng hơn, Hiệp định còn có các quy định nhằm bảo đảm cơ hội để các nền kinh tế thành viên có trình độ phát triển khác nhau và doanh nghiệp thuộc mọi quy mô đều có thể được hưởng lợi; giúp doanh nghiệp vừa và nhỏ vượt qua thách thức, tận dụng cơ hội để phát triển.

Tuy nhiên, TPP không chỉ có “màu hồng” mà sẽ có rất nhiều mệnh đề “nếu như” đi kèm. Bên cạnh những thuận lợi, Thủ tướng cũng chia sẻ mối lo lắng đối với một số doanh nghiệp có thể “bị đuối sức” trước sức ép của cuộc cạnh tranh. Bởi vì giờ đây, cạnh tranh sẽ diễn ra “không chỉ ở thị trường các nước tham gia Hiệp định mà ngay tại thị trường trong nước trên cả ba cấp độ: sản phẩm, doanh nghiệp và quốc gia – đặc biệt là cạnh tranh về chất lượng thể chế và môi trường kinh doanh.”

Qua đó, Thủ tướng nhắc nhở mọi người dân cần nhận thức rằng cơ hội thuận lợi không tự nó trở thành sức mạnh kinh tế hay khả năng cạnh tranh trên thị trường, mà phải thông qua sự nỗ lực của toàn xã hội. Nếu tận dụng tốt cơ hội, ta sẽ đẩy lùi được khó khăn và tạo ra cơ hội mới lớn hơn; ngược lại sẽ thua thiệt và rất khó khắc phục. “Trong các Hiệp định thương mại tự do, cơ hội luôn đi liền với thách thức và trong thách thức luôn ẩn chứa cơ hội – đây cũng là biện chứng của tiến trình phát triển” – Ông nhấn mạnh.

Không những vậy, bài viết cũng xác định nhiệm vụ chính của Nhà nước trong tình hình mới là “đảm bảo chức năng kiến tạo phát triển”, khẩn trương “hoàn thiện thể chế, hệ thống pháp luật” nhằm đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế thị trường hiện đại, hội nhập quốc tế và cam kết trong các Hiệp định FTA với tinh thần đổi mới toàn diện, đồng bộ cả kinh tế và chính trị. Thủ tướng nhấn mạnh, ký kết TPP nghĩa là “Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển và hội nhập mới, khác xa với giai đoạn Đổi mới và Mở cửa trước đây”.
Con tàu TPP chuẩn bị rời bến, liệu Việt Nam đã chuẩn bị đầy đủ hành trang để cùng thế giới "vươn ra biển lớn"?
Con tàu TPP chuẩn bị rời bến, liệu Việt Nam đã chuẩn bị đầy đủ hành trang để cùng thế giới “vươn ra biển lớn”?
Qua những chia sẻ trên, chúng ta có thể nhận thấy nỗi băn khoăn, trăn trở lớn nhất của Thủ tướng hiện nay là liệu Việt Nam có ý thức đầy đủ, chấp nhận tuân thủ luật chơi chặt chẽ và vượt qua thách thức để đón các “cơ hội vàng” mà TPP mang lại hay không? Cánh cửa hội nhập đã mở, liệu người dân, các chủ doanh nghiệp và các cấp lãnh đạo đã sẵn sàng để “vươn ra biển lớn” hay chưa? 

Như người đứng đầu Chính phủ khẳng định: “Thể chế quản trị quốc gia là yếu tố quyết định nhất đến sức cạnh tranh vĩ mô và sự phát triển một nền kinh tế”. Vậy thì liệu các cấp lãnh đạo cao nhất có sẵn sàng cho một cuộc cải cách ở khâu then chốt: chuyển từ thể chế “Nhà nước quản lý toàn diện” sang “Nhà nước kiến tạo phát triển” như Thủ tướng từng khẳng định hay chưa?

Hiệp định TPP vừa được chính thức ký kết hôm 04/02/2016 tại thành phố Auckland, New Zealand. Như vậy là Việt Nam và 11 thành viên chỉ còn khoảng 2 năm để chuẩn bị trước khi TPP bắt đầu có hiệu lực. Dù chỉ còn vài tháng nữa Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng sẽ kết thúc nhiệm kỳ công tác sau 10 năm điều hành Chính phủ, thế nhưng trong phạm vi trách nhiệm và quyền hạn của mình, Ông đã trình bày những kỳ vọng và trăn trở của mình khi Việt Nam chính thức gia nhập TPP thông qua bài viết một cách toàn diện, vừa sâu sắc lại vừa súc tích. Qua đó, Thủ tướng kêu gọi Việt Nam phải quyết tâm vượt qua những khó khăn, thử thách khi tuân thủ quy định của TPP, đồng thời phải mạnh dạn vượt qua sức ỳ và tinh thần bảo thủ lạc hậu để đáp ứng yêu cầu phát triển trong giai đoạn mới.
Lan Anh
__._,_.___

Posted by: truc nguyen <

Thursday, March 3, 2016

Ông Trương Đình Tuyển: Cải cách thể chế là quyết định

 

Ông Trương Đình Tuyển: Cải cách thể chế là quyết định

Thứ năm, 03/03/2016, 09:31 (GMT+7)
(Thời sự) - TPP và FTA Việt Nam-EU sẽ buộc chúng ta phải “công phá” vào sức ỳ và sự bảo thủ, nó đặt ra yêu cầu và là động lực để chúng ta cải cách nền quản trị quốc gia.

·          


Cải cách thể chế là quyết định yếu tố khi gia nhập Hiệp định Đối tác xuyên Thái Bình Dương – TPP

Như đã phân tích trong phần đầu bài viết của cố vấn cao cấp Trương Đình Tuyển, các nước thành viên TPP, trong đó có Hoa Kỳ và Việt Nam, đều có những tính toán riêng khi tham gia Hiệp định này. Vậy đâu là những cơ hội, thách thức của Việt Nam khi tham gia TPP và Việt Nam phải làm gì để cải cách thể chế – yếu tố có vai trò quyết định trong sự phát triển của một nền kinh tế?
Báo điện tử Chính phủ xin trân trọng giới thiệu phần tiếp theo trong bài viết của ông Trương Đình Tuyển, nguyên Bộ trưởng Bộ Thương mại, cố vấn cao cấp của Chính phủ trong đàm phán TPP.

III. Cơ hội và thách thức với Việt Nam khi tham gia TPP
Bộ Công Thương đã công bố chi tiết toàn văn nội dung của Hiệp định, mức độ cam kết của từng nước, trong đó có cam kết của Việt Nam. Chúng ta sẽ thấy rõ hơn, cụ thể hơn những cơ hội cũng như những thách thức mà TPP mang lại.
Những ngày gần đây, Bộ trưởng Vũ Huy Hoàng, Thứ trưởng Trần Quốc Khánh, Trưởng đoàn Đàm phán Chính phủ và nhiều học giả, chuyên gia trong và ngoài nước đã phân tích tổng thể cơ hội và thách thức mà TPP mang lại.

Đặc biệt, bài viết “Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương. Cơ hội và thách thức-Hành động của chúng ta” của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đăng trên các phương tiện thông tin đại chúng đã phân tích rất sâu sắc và súc tích về đặc điểm của Hiệp định, những cơ hội lớn cũng như những thách thức không nhỏ mà Hiệp định tạo ra cho Nhà nước, nhân dân và cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam. Thủ tướng cũng chỉ ra những nhiệm vụ rất quan trọng mà Đảng, Nhà nước, nhân dân và cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam phải khẩn trương hành động để tận dụng cơ hôi, vượt qua thách thức khi tham gia Hiệp định này. Đây là một bài viết rất sâu sắc, thiết nghĩ khó nói gì thêm. Tôi chỉ bình luận thêm đôi điều về bài viết này.

Về cơ hội
Nhiều người đã nói đến mức tăng xuất khẩu và tổng sản phẩm trong nước khi tham gia TPP, rằng Việt Nam sẽ là nước được lợi nhiều nhất trong TPP. Những điều họ nói không phải là không có căn cứ, nhiều chuyên gia độc lập đưa ra các dự báo về tỷ lệ tăng trưởng dựa trên mô hình kinh tế lượng.
Tuy nhiên, các mô hình này không phản ánh sự biến động của kinh tế thế giới. Không phản ánh được hoạt động của chủ thể, cũng không phản ánh được đối sách của Chính phủ và doanh nghiệp trong một thế giới nhiều biến động như thời đại chúng ta đang sống.

Tăng trưởng xuất khẩu và GDP là cái đích ta kỳ vọng đạt đến. Nhưng đấy chỉ là kết quả cuối cùng, nó phản ánh sức cạnh tranh của nền kinh tế. Một chiến lược tăng trưởng đúng phải bắt đầu từ chiến lược nâng cao sức cạnh tranh. Làm sao có được tăng trưởng nếu khả năng cạnh tranh không được cải thiện? Mà đây chính là điểm yếu của chúng ta.

TPP cũng sẽ thúc đẩy hình thành chuỗi cung khu vực. Đúng vậy! Nhưng sẽ không có nhiều lợi ích khi trong chuỗi cung ấy, nếu Việt Nam chỉ chiếm giữ những công đoạn có giá trị gia tăng thấp nhất trong khâu lắp ráp, khi chiến lược phát triển công nghiệp hỗ trợ vẫn chưa được định hình…

Về thách thức
Như phân tích của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng: Thách thức cũng rất gay gắt, trước hết là sức ép cạnh tranh trên cả ba cấp độ. Nghĩa vụ thực thi cũng rất nặng nề. Trong đó chất lượng nguồn nhân lực thấp sẽ là một lực cản lớn mà chúng ta phải đối mặt, và khâu có tính quyết định chính là chất lượng thể chế và môi trường kinh doanh.

Vì vậy, để tận dụng cơ hội mà TPP tạo ra, phải có chiến lược nâng cao sức cạnh  tranh, bao gồm: sức cạnh tranh của sản phẩm (hàng hóa và dịch vụ), sức cạnh tranh  của doanh nghiệp và đặc biệt là sức cạnh tranh về thể chế và môi trường kinh doanh. Cả ba yếu tố này chúng ta đang ở vị thế thấp.

Về lao động và môi trường, hai trong số nhiều nội dung mới của Hiệp định, cũng đặt ra những thách thức cho doanh nghiệp và cho hoạt động của Tổng Liên đoàn Lao động và hệ thống chính trị của nước ta.

Lý lẽ của hai chương này là ở chỗ:
(1) Bảo vệ môi trường là trách nhiệm của toàn nhân loại, của mọi quốc gia. Doanh nghiệp không đầu tư đủ mức để bảo vệ môi trường sẽ gây hậu quả xấu cho đời sống nhân loại mà làm chi phí sản xuất giảm, tạo ra sự cạnh tranh không bình đẳng với những doanh nghiệp đã đầu tư cho bảo vệ môi trường.

(2) Cũng vậy, một nước, một doanh nghiệp không bảo đảm điều kiện làm việc tối thiểu cho người lao động, không tạo điều kiện cho họ lập tổ chức để bảo vệ quyền và lợi ích chính đáng của mình theo nguyện vọng của họ thì chi phí sản xuất cũng sẽ thấp, sẽ tạo ra sự cạnh tranh không bình đẳng với các quốc gia, doanh nghiệp đã làm tốt công việc này. Hơn nữa, các nước trong TPP đều là thành viên của Tổ chức Lao động Thế giới (ILO) có nghĩa vụ “thừa nhận, thúc đẩy và tuân thủ” Tuyên bố 1998 của ILO mà nội dung cụ thể được thể hiện tại 8 công ước của Tổ chức này.

Thực hiện các quy định về môi trường và lao động trong Hiệp định tuy có làm cho chi phí sản xuất tăng thêm nhưng đây cũng là mục tiêu mà Đảng và Nhà nước ta đang phấn đấu thực hiện.
Ông Trương Đình Tuyển, nguyên Bộ trưởng Bộ Thương mại, cố vấn cao cấp của Chính phủ trong đàm phán TPP,
Ông Trương Đình Tuyển, nguyên Bộ trưởng Bộ Thương mại, cố vấn cao cấp của Chính phủ trong đàm phán TPP,

IV. Cải cách thể chế để tận dụng cơ hội, vượt qua thách thức

1. Thế chế là yếu tố quyết định hàng đầu
Ở trên, chúng tôi đã trình bày tổng quan về những cơ hội và thách thức khi tham gia TPP trong điều kiện toàn cầu hóa ngày càng sâu rộng.

Cần khẳng định rằng cơ hội không tự nó biến thành lợi ích, không tự nó chuyển thành sức mạnh trên thị trường mà phụ thuộc vào hành động của chủ thể. Cũng vậy, thách thức tuy là sức ép trực tiếp nhưng dồn ép đến đâu lại phụ thuộc vào đối sách của chủ thể. Chủ thể ở đây là doanh nghiệp, người dân và nhà nước. Nếu tận dụng tốt cơ hội sẽ đẩy lùi được thách thức, tạo ra cơ hội mới lớn hơn. Ngược lại nếu không tận dụng được cơ hội thì thách thức sẽ lấn át và sẽ chuyển thành những khó khăn dài hạn rất khó khắc phuc. Đây là điều mà chúng ta đã làm nhưng chưa làm thật tốt khi tham gia các Hiệp định ASEAN+, nhất là khi gia nhập WTO.
Vậy vai trò của các chủ thế trong “cuộc chiến” cạnh tranh ở đây là thế nào?

Tôi cho rằng, doanh nghiệp phản ánh tất cả, là nơi thể hiện sức mạnh và khả năng cạnh tranh của một nền kinh tế nhưng tự nó không quyết định tất cả. Và, như Thủ tướng đã khẳng định, doanh nghiệp luôn hoạt động trong khung khổ thể chế và trong một môi trường kinh doanh nhất định.

Chúng ta đã nói nhiều đến những yếu kém của doanh nghiệp Việt Nam: Quy mô nhỏ, tiềm lực về vốn và công nghệ thấp, thiếu tầm nhìn dài hạn và chiến lược phát triển lâu dài. Điều đó đúng, nhưng có nguyên nhân của nó:
– Sinh sau đẻ muộn (đến năm 2000 mới có Luật Doanh nghiệp, tạo ra khung khổ pháp lý cho sự hình thành và phát triển doanh nghiệp tư nhân), trong khi đó lại duy trì quá lâu tình trạng độc quyền của doanh nghiệp nhà nước, vừa kém hiệu quả vừa chèn lấn khu vực tư nhân.

– Thể chế không ổn định, môi trường kinh doanh không thuận lợi lại thiếu minh bạch dẫn đến các doanh nghiệp kinh doanh theo “kiểu cơ hội” mang tính “chộp giật” mà thiếu đi tư duy và chiến lược kinh doanh dài hạn. Chính điều này lại góp phần hình thành những nhóm lợi ích thao túng chính sách.
Vì vậy, yếu tố có tính chất quyết định là thể chế và môi trường kinh doanh. Trong tác phẩm “Tại sao các quốc gia thất bại”, Daron Acemoglu cũng khẳng định điều này. Ông cho rằng chất lượng thể chế là yếu tố quyết định sự phát triển của mỗi nước.

Ở đây, có thể dẫn ra một ví dụ minh họa. Vào đầu thập niên 70 của thế kỷ trước có một nước trong ASEAN chúng ta có trình độ phát triển rất cao, vượt xa các nước còn lại và vượt rất xa Hàn Quốc, nhưng vào thời điểm hiện tại trình độ phát triển của quốc gia này lại đang ở vị trí thấp nhất trong các nước ASEAN-6. 

Trong khi đó, chỉ chưa đến 30 năm, Hàn Quốc đã thực hiện thành công tiến trình công nghiệp hóa và trở thành thành viên của OECD. Hiện nay, Hàn Quốc là địa chỉ của những sản phẩm công nghệ cao hàng đầu thế giới. Có nhiều nguyên nhân. Nhưng nguyên nhân quan trọng nhất vẫn là thể chế và môi trường kinh doanh, tiếp đó là bản lĩnh của lãnh đạo và ý chí của người dân. 

Cần lưu ý rằng trong thời đại khoa học công nghệ phát triển như vũ bão như thời đại chúng ta đang sống thì một nước đi sau, có trình độ phát triển thấp hơn có thể đuổi kịp và vượt lên trên nước đã có trình độ phát triển cao hơn nếu có thể chế tốt, đường lối đúng trên cơ sở “tư duy toàn cầu, hành động địa phương”; lãnh đạo và người dân có ý chí tự lực tự cường và khát vọng vươn lên. 

Đây cũng là quy luật của thời đại.

2. Chỉ số cạnh tranh toàn cầu và môi trường kinh doanh của Việt Nam ở mức thấp và đang là vùng trũng trong ASEAN.
Theo báo cáo Chỉ số cạnh tranh toàn cầu năm 2015-2016 do WB công bố Việt Nam xếp thứ 56 và đứng thứ 7 trong 10 nước ASEAN. Trong đó cạnh tranh về thể chế còn thấp hơn, xếp thứ 92 trong số 140 nước được xếp hạng và đứng thứ 8 trong 10 nước ASEAN (thấp hơn các nước ASEAN-6 và thấp hơn cả Lào.
Về môi trường kinh doanh, theo đánh giá của WB, mặc dầu Chính phủ đã chỉ đạo hết sức quyết liệt bằng 2 Nghị quyết số 19/NQ-CP (2014 và 2015) và môi trường kinh doanh trong năm 2014 đã có bước cải thiện rõ rệt nhưng chỉ số này trong năm 2015 lại bị tụt hạng so với năm 2014 và xếp thứ 78, tụt 6 bậc.

3. Trong mối quan hệ giữa thể chế và môi trường kinh doanh thì thể chế tạo nên khuôn khổ để xác lập môi trường kinh doanh. Vì vậy thể chế là gốc. Không thể có môi trường kinh doanh như kỳ vọng nếu không xây dựng được thể chế tốt. Nhưng mặt khác, những tiến bộ trong cải cách thể chế phải được chuyển hóa đầy đủ sang cải thiện môi trường kinh doanh. Chúng ta đã có cố gắng để thực hiện điều này như kết quả vẫn chưa được như kỳ vọng. 

Theo một số nghiên cứu những nước có cùng thứ hạng về thể chế như nước ta thì GDP bình quân của nước này vẫn gấp 3 lần Việt Nam. Có nhiều nguyên nhân nhưng trong đó, có nguyên nhân, những tiến bộ trong cải cách thể chế đã không chuyển hóa đầy đủ thành kết quả cải thiện môi trường kinh doanh.

4. Định hướng cải cách thể chế ở Việt Nam
Để tận dụng cơ hội và vượt qua thách thức phải bắt đầu từ cải cách thể chế, tập trung cải cách nền quản trị quốc gia (bao gồm các định chế quản lý, hệ thống tổ chức quản lý và đội ngũ cán bộ) và phải bảo đảm sự tương thích và đồng bộ trong các yếu tố này.

Về cải cách thể chế: Cần thay đổi cơ bản mối quan hệ giữa nhà nước với doanh nghiệp và thị trường. Trong đó, Nhà nước chuyển từ nhà nước làm kinh tế (thông qua các doanh nghiệp do nhà nước sở hữu) và nhà nước can thiệp bằng các biện pháp hành chính sang Nhà nước bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, giữ vai trò kiến tạo phát triển. Nhằm mục tiêu đó, cần thực hiện các yêu cầu sau đây:

– Công khai minh bạch trong mọi cơ chế quản lý và chính sách phát triển, bảo đảm ổn định trong vận động theo xu hướng tốt hơn và có thể tiên liệu được đi đôi với phát huy vai trò và trách nhiệm của mọi công dân, các chuyên gia độc lập, các nhóm thinktank, các tổ chức xã hội có quyền tham gia vào việc hoạch định chính sách và phản biện, giám sát việc thực thi chính sách.

– Tạo lập môi trường thông thoáng cho đầu tư kinh doanh theo quan điểm lập pháp mà chúng ta đã khẳng định là: Mọi người dân có quyền làm những gì mà pháp luật không cấm (tiếp cận “chọn bỏ”). Mọi hạn chế quyền công dân chỉ vì mục tiêu, quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự an toàn xã hội và sức khỏe cộng đồng như Hiến pháp 2013 đã khẳng định. Cán bộ, công chức chỉ được làm và phải làm (tôi nhấn mạnh cụm tù mà Thủ tướng nêu trong bài viết đã dẫn vì lâu nay dường như ta hay bị bỏ quên vế quan trọng này). Đây chính là bản chất của nhà nước pháp quyền. Một nhà nước pháp quyền là phải thượng tôn pháp luật và dân chủ phải song hành với pháp trị như một cặp “song sinh” – điều mà Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã nhấn mạnh trong bài viết đầu năm 2014.

– Bảo đảm công bằng, không phân biệt đối xử cho mọi người dân và doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế về cơ hội tiếp cận thị trường (bao gồm thị trường mua sắm công), các nguồn lực, cả trong các quy định của pháp luật và trong thực tiễn.
-Tạo lập một thị trường có tính cạnh tranh cao, đi đôi với việc thực hiện đầy đủ luật cạnh tranh.
– Bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, tạo động lực cho sáng tạo.
– Bảo đảm quyền sở hữu tài sản của công dân.
– Bảo hộ nhà đầu tư.
– Xây dựng  các chế tài đủ mạnh để thực hiện trong thực tế các yêu cầu nêu trên.

Về tổ chức bộ máy:
Cải cách thể chế là yếu tố quyết định nhưng không đủ, phải có tổ chức mạnh và hiệu quả để bảo đảm thực thi thế chế theo nguyên tắc của Nhà nước pháp quyền. Tổ chức như một cơ thể sống. Thiếu sẽ không bao quát hết các chức năng nhưng thừa vận động sẽ khó khăn, thậm chí không vận động được.

Ngoại trừ những trường hợp vì người mà “đẻ” ra tổ chức (rất tiếc là trước đây ở nước ta đã không ít lần xuất hiện tình trạng này), về nguyên lý, tổ chức sinh ra là từ nhu cầu của quản lý, của xã hội nhưng khi tổ chức đã hình thành nó lại có xu hướng bảo vệ sự tồn tại của nó dầu cho không cần thiết cho quản lý nữa. Đây có thể là “bản tính” của tổ chức trong bất cứ một chế độ xã hội nào.

Vì vậy, phải dũng cảm vượt qua sức ỳ, sự bảo thủ của tổ chức để xây dựng một bộ máy quản lý tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả vận hành thông suốt; tổ chức là đường dẫn để thể chế vận động. Đường dẫn rắm rối, chồng chéo thì doanh nghiệp, người dân rất khó tiếp cận được cơ chế, chính sách, làm tăng chi phí. Vì vậy phải loại bỏ mọi sự chồng chéo trong hệ thống chính trị của chúng ta. Không thể chịu đựng mãi tình cảnh thu ngân sách không đủ để chi thường xuyên (chủ yếu là trả lương, các khoản trợ cấp) và trả nợ.

Về đội ngũ cán bộ:
Muốn có tổ chức tốt thì yếu tố cấu thành tổ chức (cán bộ, công chức) phải tốt. Cán bộ, công chức phải thực sự là công bộc của dân. Logic ở đây thật đơn giản: Người dân đóng thuế nuôi công chức để công chức phục vụ mình chứ không ai đóng thuế nuôi một bộ máy “hành” mình. Khi định hướng nhân sự đại hội Đảng các cấp, chúng ta nói nhiều đến phẩm chất và năng lực. 

Vậy mối quan hệ giữa chúng thế nào? 
Có người nhấn mạnh năng lực. Có người-ngược lại, nhấn mạnh phẩm chất. Tôi cho rằng: Phẩm chất là điều kiện cần. 

Bởi vì, nếu có năng lực mà không có phẩm chất thì năng lực đó cũng phục vụ nhóm lợi ích và làm méo mó chính sách. Ngược lại nếu có phẩm chất mà năng lực kém thì cũng không giúp được gì cho xã hội như Bác Hồ nói cũng như Ông Bụt. Vì vậy năng lực phải là điều kiện đủ.

Về vai trò của thị trường: Phải coi thị trường là cơ chế chủ yếu để phân bổ và sử dụng hiệu quả nguồn lực, trên cơ sở quan hệ cung cầu, khả năng cạnh tranh và hiệu quả kinh tế.
Trong khung khổ thể chế và môi trường kinh doanh như vậy, và dưới sức ép cạnh tranh, mọi doanh nghiệp sẽ có cơ hội như nhau để phát huy mọi khả năng sáng tạo, chăm lo đào tạo  nguồn nhân lực; xây dựng chiến lược cạnh tranh với tầm nhìn dài hạn. 

Đương nhiên, có những doanh nghiệp sẽ thất bại, thậm chí phá sản, một số người sẽ mất việc làm nhưng nhiều doanh nghiệp sẽ vươn lên, mở rộng sản xuất,  nhiều doanh nghiệp khác ra đời và tạo ra nhiều việc làm mới. Chính vì vậy, trong cuộc họp báo của Bộ Công Thương để giới thiệu về TPP, chúng tôi đã phát biểu: Điều đáng lo nhất là “sức ỳ” của bộ máy nhà nước.
TPP và FTA Việt Nam-EU sẽ buộc chúng ta phải “công phá” vào sức ỳ ấy, nó đặt ra yêu cầu và là động lực để chúng ta cải cách nền quản trị quốc gia.

Thời gian vừa qua, Quốc hội đã ban hành một số luật (Luật Đầu tư, Luật Đấu thầu…) trên cơ sở các cam kết của Việt Nam trong TPP và trong FTA với EU, cần nhanh chóng ban hành các văn bản hướng dẫn thực hiện. Đồng thời khẩn trương tiến hành đối chiếu so sánh giữa các cam kết trong các hiệp định với các luật đã được Quốc hội phê chuẩn, làm rõ những khác biệt. 

Những gì mà các cam kết vượt quá các quy định của luật cần làm rõ thật chi tiết cụ thể, chuẩn bị các phương án để trình Quốc hội quyết định (sửa đổi, bổ sung, hoàn thiện hoặc áp dụng trực tiếp khi Quốc hội phê chuẩn hiệp định). Ngoài ra, cũng rất cần thiết phải hoàn thiện Luật Cạnh tranh, đăc biệt là về tổ chức cơ quan quản lý cạnh tranh.

Việc cấp bách phải làm là đẩy mạnh cải cách doanh nghiệp nhà nước theo yêu cầu loại bỏ độc quyền và những ưu đãi dành riêng cho DNNN, áp đặt kỷ luật thị trường đối với DNNN. Đổi mới quản trị DNNN, tách bạch chức năng hoạch định chính sách với chức năng chủ sở hữu DNNN trong các cơ quan quản lý. Hoàn thiện cơ chế chủ sở hữu nhà nước và đại diện chủ sở hữu nhà nước tại DNNN; đẩy mạnh cổ phần hóa DNNN.

Cần nhận thức đầy đủ mối quan hệ giữa cải cách DNNN với tạo lập môi trường cạnh tranh bình đẳng và tiến trình cơ cấu lại hệ thống ngân hàng thương mại. Trong đó, cải cách DNNN tạo điều kiện để xác lập thị trường cạnh tranh và tái cơ cấu các ngân hàng thương mại, và hiệu quả của cải cách DNNN sẽ củng cố kết quả của tiến trình tái cơ cấu ngân hàng thương mại.

Trương Đình Tuyển
(Theo Chính Phủ)
__._,_.___

Posted by: truc nguyen 

My Blog List