Hình ảnh nói lên: Sự kiện Tội Ác Việt Cộng ! ! !






https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEj6kLmYKa-hPj1HvFQ9_a90KHJhUV_iUMIMpX4OuUtcp6iY8tidLohE38X7ObP2c42O5V9-qDdwu0FmyTgJjcSZI_uM_-UibAiDC_1ucag_fkHs2pV3BymecImeC0W5_uks9TF3NPCej5k/s1600/babui-danlambao-%C4%90a%CC%82%CC%81t+nu%CC%9Bo%CC%9B%CC%81c+la%CC%80+ca%CC%81i+%C4%91uo%CC%82i+sam1.jpg








Friday, April 22, 2016

Giải mã sự tụt hậu của Việt Nam


Giải mã sự tụt hậu của Việt Nam

PGS. TS. Phạm Quý Thọ Học viện Chính sách và Phát triển
  • 20 tháng 4 2016
Việt Nam
Lãnh đạo Việt Nam kỳ vọng nâng mức thu nhập trung bình lên trên 7.000 USD vào năm 2035 nếu đạt tỷ lệ tăng trưởng GDP tối thiểu 7% mỗi năm từ nay.
Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam lần thứ 12 kết thúc với phát biểu cảm xúc của tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng ‘dân chủ đến thế là cùng’.

Kỳ họp cuối cùng của Quốc hội khóa 13 cũng đã kết thúc ngoài dự kiến khi miễn nhiệm dàn lãnh đạo cũ và bổ nhiệm mới để lấp khoảng trống quyền lực giữa đảng và chính phủ với tuyên bố thủ tục rằng ê kíp lãnh đạo mới này sẽ tiếp tục được giới thiệu ra Quốc hội 14 theo Hiến định.

Các nhà quan sát thế giới và trong nước đang theo dõi những quyết định nhân sự của đảng và động thái của tân chính phủ thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc.


Những thách thức kinh tế kéo dài từ các chính phủ tiền nhiệm, như thâm hụt ngân sách nặng nề, chi thường xuyên lớn, hết dư địa cho đầu tư phát triển, nợ công cao và tăng nhanh, nợ xấu cao tạo rủi ro cho hệ thống tài chính ngân hàng, doanh nghiệp làm ăn khó khăn, giải thể nhiều… cộng thêm những bất lợi về thiên tai ảnh hưởng xấu đến sản xuất nông nghiệp, làm giảm thiểu tốc độ tăng của nền kinh tế.

Trên các phương tiện thông tin đại chúng xuất hiện những phóng sự ‘nặng ký’ về các dự án sai phạm đất đai ở Vườn Quốc gia Ba Vì Hà Nội, dự án nhiều nghìn tỷ ‘đắp chiếu’, như dự án TISCO – Công ty cổ phần gang thép Thái Nguyên (8.104 tỷ đồng), dự án sơ sợi Hải Phòng (7.000 tỷ đồng), nhà chờ xe buýt nhanh (1.000 tỷ đồng) ở Hà Nội, các dự án không hiệu quả như Bảo tàng Hà Nội...


Những bức xúc xã hội như dân oan, đặc biệt trong lĩnh vực đất đai, gia tăng phân hóa giàu nghèo, tệ nạn xã hội, mất vệ sinh an toàn thực phẩm, chạy quyền chạy chức, giảm sút chất lượng dịch vụ xã hội, tăng phí giao thông, phí y tế… tạo sức ép đối với cuộc sống người dân, làm mất lòng tin vào chế độ…

Các chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh PCI và chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh PAPI ở Việt Nam 2015 mới vừa được công bố cho thấy sự yếu kém của bộ máy công quyền không được cải thiện, phí ‘bôi trơn’ tăng lên và tham nhũng là căn bệnh kinh niên.

Tăng trưởng GDP quý 1/2016 giảm sút còn 5,46% so với cùng kỳ năm 2015 là 6,12% (bỏ qua những nghi vấn về tính trung thực số liệu thống kê), con số 7,3 tỷ đô la các ngân hàng, tổ chức và cá nhân chuyển ra nước ngoài… tạo ra hiện tượng ‘bất bình thường’.

Kế hoạch tăng trưởng bình quân năm trong 5 năm 2016-2020 được Quốc hội khóa 13 thông qua là 6,5% -7%. GDP/đầu người ước đạt 3.200 USD.

Nhìn lại, chỉ tiêu này trong chiến lược phát triển kinh tế xã hội năm 2020 đưa Việt Nam trở thành nước công nghiệp hóa, GDP/ đầu người khoảng 5.000 USD, rõ ràng không thể đạt được.

Sa lầy trong tư duy

Đến năm 2038, Việt Nam mới có thể bắt kịp năng suất lao động của Philippines và đến năm 2069 mới có thể bắt kịp Thái Lan.
Sự tụt hậu kinh tế Việt Nam so với các nước trong khu vực ngày càng lớn.
Theo số liệu của Ngân hàng Thế giới (WB), thu nhập bình quân đầu người năm 2014 của Việt Nam là 2.052 USD, trong khi
Singapore là 56.287 USD,
Malaysia là 10.830 USD,
Thái Lan là 5.561 USD và
Indonesia là 3.515 USD.
Như vậy, chỉ tiêu này của nước ta tụt hậu so với Hàn Quốc chừng 30 đến 35 năm, Malaysia khoảng 25 năm, Thái Lan chừng 20 năm, Indonesia và Philippines chừng từ 5 đến 7 năm. Đến năm 2038, Việt Nam mới có thể bắt kịp năng suất lao động của Philippines và đến năm 2069 mới có thể bắt kịp Thái Lan…
Báo cáo “Việt Nam 2035 – Hướng tới thịnh vượng, sáng tạo, công bằng và dân chủ”, do các chuyên gia World Bank và Việt Nam thực hiện – được nhận xét là quá lạc quan, khi cho rằng Việt Nam nếu duy trì mức tăng trưởng tối thiểu 7% mỗi năm để nâng mức thu nhập trung bình lên trên 7.000 USD vào năm 2035, tuy nhiên đã đề xuất nhiều khuyến nghị quan trọng, đặc biệt là cải cách thể chế.
Các chuyên gia nhận định: “Việt Nam đang có nguy cơ mắc kẹt trong bẫy thu nhập trung bình thấp và khó thoát ra khỏi tình trạng này nếu không có các giải pháp cải cách mạnh mẽ, quyết liệt”.

Liệu đây là lời cảnh báo cho ‘chiến lược’ phát triển mới của Việt Nam?
Tại sao Việt Nam lại là ‘đất nước không chịu phát triển’?
Có ba nhân tố cơ bản quyết định một quốc gia sẽ phát triển, giàu có: thể chế, vị trí địa lý và văn hóa. Nhân tố hàng đầu là thể chế. Nói chung, những nước phát triển có một thể tốt và những nước kém phát triển có một thể chế tồi.
Việt Nam ‘sa lầy’ trong tư duy giáo điều về chủ nghĩa Mác – Lê, chủ nghĩa xã hội trong thời gian dài, khiến cho cải cách thể chế không mang lại hiệu quả.
Đào tạo cho các lớp ‘cán bộ nguồn’, chương trình chính khóa về tư tưởng Mác – Lê Nin trong các trường đại học, cao đẳng, dạy nghề chiếm dung lượng lớn đã làm kéo dài thời gian đào tạo, gây nên những phản ứng từ học sinh và đối với vấn đề cải cách giáo dục, đào tạo.
Nay sinh viên học trường đều phải đóng học phí, họ cần được biết các tư tưởng, triết lý khác ngoài hệ quy chiếu này.

Mâu thuẫn hai hệ thống

Việt Nam
Việt Nam đang trong quá trình chuyển giao quyền lực lãnh đạo kể từ sau Đại hội 12 của Đảng Cộng sản.
Mâu thuẫn giữa hai hệ thống giá trị và lợi ích của chủ nghĩa xã hội và thị trường tạo ra những khoảng trống quyền lực không kiểm soát, lợi ích nhóm và tham nhũng… trở thành quốc nạn và đang cản trở đổi mới.

Tập trung cao quyền lực trung ương, thiếu vắng hoặc mang tính hình thức cơ chế giám sát, phản biện, giải trình, công khai minh bạch của chính quyền, không công nhận tổ chức xã hội dân sự, thiếu thực chất sự tham gia của người dân trong quản lý nhà nước… đang làm cho thể chế méo mó, xã hội xuống cấp và người dân mất niềm tin.
Cải cách kinh tế tất yếu dẫn đến thay đổi thể chế chính trị, không phụ thuộc vào ý chí chủ quan, bảo thủ. Vấn đề là thời gian.
Quan sát các nước gần đây trong khu vực, bài học kinh nghiệm từ Indonesia có ích cho Việt Nam để tiếp tục đổi mới.
Tính phức tạp xã hội, nhân khẩu học, kinh tế liên tưởng tới thực trạng kinh tế xã hội Việt Nam, nhưng với những cải cách mạnh mẽ gần đây khiến chất lượng thể chế của Indonesia ổn định, ngày càng được cải thiện và được thế giới đánh giá cao.

Những tiến bộ thể hiện ở việc quyền hạn của Quốc hội và tư pháp được củng cố, thể chế tam quyền phân lập được xác lập từng bước. Năm 1999, lần đầu tiên Indonesia thực hiện tổng tuyển cử, năm năm sau, lần đầu tiên dân chúng được trực tiếp bầu tổng thống.
Về thể chế kinh tế, ngân hàng nhà nước được độc lập, chiến lược, chính sách phát triển kinh tế dài hạn được hoạch định công phu, với nội dung có sức thuyết phục và các cơ chế, biện pháp thực hiện chi tiết và có tính khả thi cao.
Những bài học sâu sắc nêu trên được trình bày trong cuốn "Indonesia: Cường quốc kinh tế."
Nhân tố thứ hai làm cho đất nước tụt hậu là văn hóa – những thứ đã in sâu vào tâm trí, quan điểm, niềm tin và định hướng hành vi.
Cơ sở văn hóa lúa nước, trọng tình, nước đôi… ảnh hưởng của Nho giáo, Khổng giáo… đã không hỗ trợ kinh tế thị trường. Năm 2015 có khoảng 9000 lễ hội, trong đó nhiều hình thức biến tướng, buôn thần bán thánh, kích thích lòng tham tiền và quyền lực, hủ tục lạc hậu.

'Cho tôi một thể chế'

V. I. Lê Nin, lãnh tụ cộng sản Nga đầu thế kỷ 20, từng nói ‘nếu cho tôi một thể chế tôi sẽ xoay chuyển nước Nga’, theo tác giả.
Cải cách văn hóa ở đây, một mặt phải kết hợp giữa niềm tin tôn giáo và sự tạo ra của cải nhiều hơn, mặt khác tạo cơ chế tự do cá nhân và dân chủ để con người tin tưởng mạnh mẽ vào khả năng để thay đổi số mệnh của họ thông qua việc nỗ lực và tài năng, chứ không phải thế lực siêu nhân, hay sự trông chờ vào đảng và nhà nước.

Vị trí địa lý là một nhân tố đặc biệt ảnh hưởng đến sự phát triển của Việt Nam.

Trái với những bài học ca ngợi tổ quốc thời niên thiếu rằng nước ta ‘mưa thuận, gió hòa, rừng vàng, biển bạc…’, Việt Nam, không thực giàu có về trữ lượng tài nguyên thiên nhiên, lại nằm ở vùng nhiệt đới khắc nghiệt chịu ảnh hưởng lớn từ biến đổi khí hậu, giông bão, hạn hán, ngập mặn do nước biển dâng, các dịch bệnh nhiệt đới đòi hỏi chi phí lớn để bảo vệ con người, súc vật và cây trồng…

Tuy nhiên trong bối cảnh hiện nay, yếu tố này trở thành ‘lời nguyền địa lý’ bởi sự chung biên giới và quan hệ truyền thống với Trung Quốc.


Lịch sử chống xâm lăng hàng nghìn năm, chung ý thức hệ tư tưởng, đồng dạng thể chế chính trị, kinh tế và sự tranh chấp ngày càng căng thẳng trên biển đông và sự quan sự hóa quần đảo Trường Sa của Trung Quốc hiện nay, khiến cho Việt Nam trở ngại trong lựa chọn đường hướng cải cách, tác động đến thể chế, làm cho chi phí quân sự, an ninh gia tăng…

Nếu các nhà lãnh đạo thấy khó khăn, hãy để mọi người dân được lựa chọn cách thức trong đó họ toàn quyền quyết định vận mệnh dân tộc và của chính họ.

Để phát triển bền vững và thịnh vượng, cần có một thể chế phù hợp với kinh tế thị trường hiện đại – kết tinh giá trị của sự phát triển nhân loại trong thời đại hiện nay, một thể chế cho phép Việt Nam khi đó không chỉ sẽ giảm thiểu khoảng cách tụt hậu kinh tế, mà còn hy vọng một tương lai tươi sáng.

V. I. Lê Nin, lãnh tụ giai cấp vô sản Nga đầu thế kỷ 20, đã từng nói, đại thể ‘nếu cho tôi một thể chế tôi sẽ xoay chuyển nước Nga’.
Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả, chuyên gia phân tích chính sách công, Học viện Chính sách và Phát triển, Bộ Kế hoạch và Đầu tư Việt Nam.


Làm gì để chữa căn bệnh nhiệm kỳ?

Khắc Giang Gửi cho BBC từ Hà Nội
  • 21 tháng 4 2016
Tác giả viết "Xoá sổ căn bệnh nhiệm kỳ, vì thế, có lẽ chỉ trông chờ vào năng lực tự thân của các lãnh đạo"
Nhà cách mạng Nga V.I. Lenin từng nói: “giành chính quyền đã khó, giữ chính quyền còn khó hơn”. Những đồng chí của ông ở Việt Nam có vẻ rất coi trọng tuyên ngôn đó, cho nên luôn xem “ổn định” là mục tiêu hàng đầu của hệ thống chính trị.
Muốn giữ được “ổn định”, như Tổng bí thư Nguyễn Phú Trọng phát biểu, điều hiển nhiên là phải lựa chọn những người kế nhiệm phù hợp. Đại hội Đảng Cộng sản lần thứ 12 và những phiên họp cuối cùng của Quốc hội 13 Việt Nam vừa hoàn thành xong nhiệm vụ đó, đưa lên sân khấu những gương mặt sẽ là đại diện cho chính quyền trong ít nhất 5 năm tới.
Ở Việt Nam, dù hệ thống bị đánh giá là độc đoán (authoritarian) theo Chỉ số Dân chủ (Democracy Index) của tờ Economist, vẫn có nét tiến bộ hơn các đồng chí khác như Bắc Triều Tiên và Cuba, khi sử dụng “nhiệm kỳ” để tránh tình trạng độc quyền cá nhân.
Thế nhưng, quản lý bằng nhiệm kỳ không phải là hoàn hảo. Nó dễ tạo ra thêm một thứ hay được gọi là “tư duy nhiệm kỳ”, khi lãnh đạo cố gắng “đặt dấu ấn” của mình trong giới hạn thời gian được tại vị. Điều này đồng nghĩa với việc cứ đến một thế hệ cầm quyền mới sẽ có nhiều ý tưởng mới, từ cấp cao nhất là thủ tướng cho đến các thành viên nội các. Có thể lấy ví dụ từ nhiệm kỳ của ba thủ tướng gần đây: Võ Văn Kiệt, Phan Văn Khải và Nguyễn Tấn Dũng.
Nếu như ông Võ Văn Kiệt và ông Phan Văn Khải nhấn mạnh vào quá trình cổ phần hoá doanh nghiệp nhà nước, cố gắng đưa vòi bạch tuộc của nhà nước ra khỏi nền kinh tế, thì ông Nguyễn Tấn Dũng lại muốn nhóm các doanh nghiệp này lại thành những “quả đấm thép”.
Đi xuống cấp bộ trưởng, có thể thấy vấn đề này rõ ràng hơn.
Đơn cử như Bộ Giáo dục: đúng 10 năm trước, chúng ta có đề án “hai không”, nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục. Năm đầu tiên thực hiện, từ 94% học sinh đỗ tốt nghiệp THPT năm 2006, con số này giảm xuống còn 66% trong kỳ thi 2007 (tăng lên 80% sau kì kỳ thi “vớt”). Ba năm tiếp theo, không có năm nào vượt qua thành tích quen thuộc 90%.
Ông Nguyễn Tấn Dũng đã từ nhiệm trong lúc ông Nguyễn Phú Trọng vẫn tại vị sau Đại hội Đảng 12
Thế nhưng kể từ năm chuyển giao nhiệm kỳ (2010), tỷ lệ này vọt lên ngoạn mục đến 99% năm 2014, và chỉ chịu giảm xuống 93% vào năm ngoái.

Có một sự trùng hợp là sự tiến bộ trong thành tích tốt nghiệp này đi cùng với sự thay đổi về trọng tâm của ngành giáo dục. Nếu như nhiệm kỳ của Bộ trưởng Nguyễn Thiện Nhân nhấn mạnh đến chống tiêu cực, thì từ khoá trong nhiệm kỳ của Bộ trưởng Phạm Vũ Luận là “trận đánh lớn” với liên tiếp những cuộc cải cách, từ tuyển sinh cho đến sách giáo khoa, gây nhiều tranh cãi. “Hai số không” không còn là ưu tiên số một nữa.

Người thay thế ông, Bộ trưởng Phùng Xuân Nhạ quay về với quan điểm con người là trung tâm. Người ta đang nín thở chờ ý tưởng của ông sẽ được hiện thực hoá ra sao. Những câu chuyện tương tự không khó để tìm thấy ở các bộ, ngành khác.

Đâu là giới hạn cho “ý tưởng”?

Tất nhiên, lãnh đạo khác nhau thì sẽ có những ý tưởng khác nhau, đó là điều không thể tránh khỏi ở bất kỳ thể chế nào. Nhưng một chiến lược phát triển đúng đắn, dài hạn đôi khi cần nhiều hơn một nhiệm kỳ.

Nhìn vào một ví dụ về cải cách doanh nghiệp nhà nước như trên, điều gì sẽ xảy ra nếu người đứng đầu thực hiện chưa xong ý tưởng thì nhiệm kỳ kết thúc? Và thậm chí ý tưởng đó bị bẻ ngoặt, dù cho đang được thực hiện hiệu quả?

Kết quả dễ thấy nhất sẽ là nguồn lực bị phân tán liên tục cho những mục tiêu dang dở, dẫn đến chuyện “vừa mất phu nhân lại thiệt quân”. Bởi ý tưởng mới tất nhiên sẽ cần nguồn lực, là tiền bạc và con người, để thực hiện. 

Chưa tính đến vấn đề lợi ích nhóm (hay tham nhũng), khi ý tưởng không hiệu quả, căn bệnh nhiệm kỳ sẽ tạo ra một chuỗi các cuộc cách mạng nửa vời, hao tổn nguồn lực mà không đi đến đâu.

Chính vì thế, tạo ra các quy chế buộc lãnh đạo mới phải có trách nhiệm với chính sách của mình, bất kể nhiệm kỳ kết thúc lúc nào, là rất cần thiết. Quan trọng hơn, ý tưởng mới cần phải được mổ xẻ một cách kỹ lưỡng trước khi được thông qua. Trong các hệ thống nhà nước hiệu quả, quy chế đó gọi là “trách nhiệm giải trình” của lãnh đạo.

Tác giả đề cập những cải cách trong lĩnh vực giáo dục gây nhiều tranh cãi do 'tư duy nhiệm kỳ'
Thời gian còn ở Anh, tôi có dịp được chứng kiến hoạt động rất thú vị của “shadow cabinet” (nội các đối lập), nhóm các nhà lãnh đạo của phe đối lập với từng “bộ trưởng đối lập” (shadow minister) theo dõi và phản biện các chính sách của bộ trưởng “xịn”. 

Họ tranh luận thường xuyên trên TV như một show truyền hình thực tế. Điều này khiến cho các nhà xây dựng chính sách phải hết sức cẩn trọng và có trách nhiệm với ý tưởng của mình, nếu như không muốn bị làm bẽ mặt, hay thậm chí là mất chức.

Tất nhiên, mỗi một quốc gia đều có những nét đặc thù, cái hay của nước này không dễ đem áp dụng một cách cơ học cho nước khác. Thế nhưng, hệ thống nào cũng cần những tiếng nói phản biện độc lập để đảm bảo góc nhìn chính sách không bị thiên lệch và nâng cao trách nhiệm giải trình của những người đứng đầu. 

Ở Trung Quốc, đã có một số trường hợp các ứng viên ngoài Đảng được cho phép giữ các chức vụ lãnh đạo cao cấp (bộ trưởng). Quá trình dân chủ hóa ở Đài Loan cũng bắt đầu với việc cho phép các ứng viên độc lập được vào Lập pháp viện (Quốc hội) từ những năm 1970.

Nhìn vào kết quả hiệp thương lần ba, tôi ước giá như các ứng viên tự ứng cử ở Việt Nam có được nhiều cơ hội hơn, thì có lẽ vai trò “giám sát” của Quốc hội sẽ được tăng lên rất nhiều. Điều đó đã không xảy ra. Xoá sổ căn bệnh nhiệm kỳ, vì thế, có lẽ chỉ trông chờ vào năng lực tự thân của các lãnh đạo, ít nhất là trong 5 năm tới.

Bài viết thể hiện quan điểm riêng của tác giả, một nhà báo tự do sống tại Hà Nội.



__._,_.___

Posted by: Dien bien hoa binh 

Monday, April 18, 2016

Việt Nam chi hơn 10 tỉ mỹ kim nhập khẩu hàng Trung Quốc


Việt Nam chi hơn 10 tỉ mỹ kim nhập khẩu hàng Trung Quốc

RFA

Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ
In trang này
000_Hkg8686355.jpg
Xe công nghiệp bao gồm xe buýt, xe tải và xe ủi đất trong một cuộc triển lãm thương mại bốn ngày tại Hà Nội ngày 12 tháng 6 năm 2013, về các sản phẩm sản xuất tại các tỉnh phía nam của Quảng Tây Trung Quốc.
AFP PHOTO
Trong quý 1/2016, Trung Quốc vẫn là thị trường nhập khẩu lớn nhất của Việt Nam.
Số liệu mới nhất vừa được Tổng Cục Hải Quan Việt Nam công bố cho thấy trong 3 tháng đầu năm nay, tổng số hàng nhập khẩu là 37,4 tỷ dollars, trong đó số hàng nhập khẩu từ Trung Quốc đã chiếm 10,7 tỷ dollars, tức 28%.
Công bố của Tổng Cục Hải Quan cho thấy tất cả những mặt hàng Việt Nam nhập khẩu nhiều nhất đều xuất xứ từ Trung Quốc, từ máy móc, máy vi tính, linh kiện điện tử, cho đến nguyên liệu dệt may.
Công bố này cũng cho thấy sau số tiền nhập khẩu hàng từ Trung Quốc là hàng Việt Nam mua từ Hàn Quốc, khu vực ASEAN, Nhật Bản và Hoa Kỳ.



__._,_.___

Posted by: Dien bien hoa binh 

Vì sao gần nửa triệu doanh nghiệp ngừng hoạt động?


Vì sao gần nửa triệu doanh nghiệp ngừng hoạt động?

Nam Nguyên, phóng viên RFA

Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ
In trang này
Nghe hoặc Tải xuống Phần âm thanhTải xuống âm thanh
000_Hkg10113116.jpg
Một cửa hàng quần áo bán các sản phẩm sản xuất trong nước ở trung tâm thành phố Hà Nội ngày 29 tháng 10 năm 2014.
AFP PHOTO
Khó có nền kinh tế nào có thể cất cánh trong tình trạng doanh nghiệp chết hàng loạt, giải thể hay ngừng hoạt động. Giới chuyên gia mô tả tình trạng bất bình thường, qua sự kiện 46% doanh nghiệp ngừng hoạt động trong vòng 10 năm qua.
Theo các số liệu chính thức của các cơ quan chuyên môn như Tổng cục Thống kê, Cục Quản lý kinh doanh, Bộ Kế hoạch Đầu tư, riêng trong năm 2015, số doanh nghiệp phải ngừng hoạt động là hơn 71.000 đơn vị, tăng hơn 22% so với năm trước. Số doanh nghiệp giải thể, ngừng hoạt động gia tăng hàng năm, đến nỗi có sự ví von là một doanh nghiệp ra đời chưa kịp tham gia thị trường, thì lại có một doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, gặp khó khăn, lâm cảnh nợ nần và phải ngừng hoạt động.
Việt Nam nên nghiên cứu một tổ chức giúp đỡ cho doanh nghiệp vừa và nhỏ, vì đây thể hiện hơn 90% tổng số doanh nghiệp.
- Chuyên gia tài chính Bùi Kiến Thành
Có nhiều nguyên do để doanh nghiệp tư nhân Việt Nam phải rời sân chơi thị trường, thứ nhất là cạn vốn mà không có chỗ để vay thêm. Trong hoạt động sản xuất kinh doanh thì giá thành cao, phẩm chất hàng hóa chưa tốt vì công nghệ lạc hậu, năng suất lao động thấp. Ngoài thuế và phí theo qui định, tất cả doanh nghiệp ở Việt Nam dù công hay tư đều phải chấp nhận những khoản chi tiêu không chính thức, không biết kê vào mục nào.
Chuyên gia tài chính Bùi Kiến Thành, một Việt Kiều về nước làm việc ở Hà Nội từ hơn 20 năm qua, nhận xét về nguyên nhân mà ông cho là lớn nhất khiến các doanh nghiệp tư nhân chết hàng loạt.
“Khó khăn lớn nhất là các doanh nghiệp ấy chưa có được sự hỗ trợ của nhà nước để phát triển từ nhiều mặt. Thí dụ doanh nghiệp chưa tiếp cận được nguồn vốn, nếu tiếp cận được thì lãi suất vẫn còn quá cao. Vì vậy trong thời gian tới cần có chính sách tiền tệ như thế nào để cho doanh nghiệp vừa và nhỏ tiếp cận được nguồn vốn với lãi suất hợp lý. Ngoài ra Việt Nam nên nghiên cứu một tổ chức giúp đỡ cho doanh nghiệp vừa và nhỏ, vì đây thể hiện hơn 90% tổng số doanh nghiệp. Nhà nước nói là tạo mọi điều kiện để cho doanh nghiệp phát triển, thế thì mọi điều kiện đó là cái gì…Nhà nước cần ngồi lại với các doanh nghiệp để đưa ra những quyết sách mới…”
Trò chuyện với chúng tôi, chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan nguyên thành viên Ban Tư vấn Kinh tế của Thủ tướng Phan Văn Khải, từng phân tích là về nguyên tắc, nguồn tín dụng trên thị trường mà các doanh nghiệp tư nhân trông chờ có thể bị giảm đi khá nhiều, vì các nhà đầu tư đi tìm lợi nhuận cao hơn và chắc chắn hơn, thông qua việc mua trái phiếu chính phủ được phát hành rất nhiều trong thời gian qua. Trong dịp đề cập tới những vấn đề bất ổn đang giăng bẫy nền kinh tế Việt Nam, chuyên gia Phạm Chi Lan từ Hà Nội nhận định:
“Về khu vực tư nhân trong nước thì rất nhiều doanh nghiệp bị ngừng hoạt động, số ngừng hoạt động cứ tiếp tục tăng lên. Nhiều doanh nghiệp lớn hơn không phải ngừng hoạt động, tình trạng hoạt động khá hơn thì lại đi bán cho các công ty khác qua các thương vụ mua lại sáp nhập… Chính sách của nhà nước vẫn thiên về hỗ trợ nhiều hơn cho khu vực đầu tư nước ngoài, thay vì khu vực tư nhân trong nước…”
000_Hkg10237188.jpg
Một cửa hàng tiện lợi Hàn Quốc ở trung tâm thành phố Hà Nội, ảnh chụp ngày 08 tháng 12 năm 2015.

Theo báo cáo thường niên Doanh nghiệp Việt Nam 2015 do Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam phổ biến, tổng số doanh nghiệp đã đăng ký thành lập vào khoảng 941.000 đơn vị, tính từ khi Luật Doanh nghiệp có hiệu lực năm 2000. Riêng trong giai đoạn từ 2007 đến 2015 tổng số doanh nghiệp ngừng hoạt động lên tới 428.000 đơn vị tương đương 45,5% tổng số doanh nghiệp. Như vậy tính đến cuối năm 2015 Việt Nam đang có khoảng 513.000 doanh nghiệp, đại đa số là doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Bên cạnh các vấn đề thuộc về chính sách như thuế, phí và tỷ giá, doanh nghiệp còn bị ảnh hưởng bởi thủ tục hành chính nhiêu khê và bất hợp lý. Vấn đề này vô hình chung góp phần tăng thời gian và chi tiêu của doanh nghiệp. Báo chí Việt Nam thường ví von thủ tục hành chính: hành là chính, còn nguyên Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng thì từng cám cảnh, thủ tục bây giờ ác độc lắm không có tiền là không xong.
Trong xu hướng cải cách ở Việt Nam, chuyên gia Bùi Kiến Thành cho rằng việc cần làm ngay là cải cách một cách thực chất về thủ tục hành chính. Ông nói:
“Lãnh đạo nhà nước đã nói bế tắc lớn nhất của chúng ta là vấn đề thủ tục hành chính chưa được khai thông. Cho nên cải cách hành chính là vấn đề ưu tiên hàng đầu đối với việc quản lý nhà nước. Như vậy đã biết hướng đi rồi còn lại là cải cách hành chính như thế nào. Ở cấp Trung ương phải làm gì, ở cấp địa phương thực hiện ra sao, đi đến chỗ những người tiếp cận với nhân dân có thái độ như thế nào để được nhân dân ủng hộ. Việc này không chỉ thay đổi tư duy mà còn là phong cách xử lý trong quan hệ với dân, để cho nhà nước và nhân dân gần nhau hơn, có được sự hợp tác chặt chẽ giữa nhân dân và nhà nước để có thể vươn lên, việc này là ưu tiên hàng đầu…”
Được biết Chính phủ Việt Nam đã tiến hành cải cách hành chính theo nghị quyết 30 năm 2011. Cho đến nay, kế hoạch này đã đi nửa đoạn đường 2011-2020 nhưng kết quả đạt được không đáng kể. Tình trạng này đã được các đại biểu Quốc hội khóa 13 nhận xét nặng nề, trong kỳ họp cuối cùng trước khi mãn nhiệm.
Chuyên gia Bùi Kiến Thành tiếp lời:
Chính sách của nhà nước vẫn thiên về hỗ trợ nhiều hơn cho khu vực đầu tư nước ngoài, thay vì khu vực tư nhân trong nước.
- chuyên gia Phạm Chi Lan
“Muốn cải cách hành chính thì cải cách thể chế như thế nào. Cái gì cần cải cách trong thể chế, cái gì cần phải đưa ra trong những qui định mới, trong việc xử lý công việc của các bộ các ngành như thế nào, tổ chức ra những cơ chế gì để ủng hộ doanh nghiệp phát triển, cơ chế gì để cho nhân dân có thể tham gia phát triển, không chỉ kinh tế mà thôi mà còn về vấn đề tự do, phát huy dân chủ, làm chủ đất nước...”
Tệ nạn tham nhũng làm suy yếu hệ thống công quyền và mất niềm tin của nhân dân. Trong các cuộc hội thảo, giới chuyên gia và cộng đồng doanh nghiệp phản ánh rất nhiều về tình trạng phải thực hiện các khoản chi không chính thức. Riêng ông Bùi Kiến Thành mô tả tham nhũng ở Việt Nam là một quốc nạn, mà đã đến lúc phải có các nỗ lực quyết liệt để giảm bớt tình trạng này. Ông nói:
“Phòng chống tham nhũng cần phải làm quyết liệt hơn các thời trước, phải có phương pháp nào để trên bảo dưới phải nghe…phải có kỷ cương phép nước như thế nào, để cho các công chức nhà nước thực sự phục vụ nhân dân chứ không phải là lãng quên trách nhiệm của mình là người phục vụ nhân dân…”
Vấn đề doanh nghiệp chết hàng loạt có xu thế gia tăng trong thời gian tới. Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam thông báo, tân Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đồng ý tổ chức hội nghị đối thoại với doanh nghiệp tư nhân dự kiến vào cuối tháng 4/2016 sắp tới tại Dinh Thống Nhất Saigon. Tân Thủ tướng mong muốn lắng nghe cộng đồng doanh nghiệp để tìm giải pháp phát triển, trong bối cảnh đã có tới 428.000 doanh nghiệp ngừng hoạt động vì khó khăn trong 10 năm qua.

207.187 tỷ đồng mỗi năm biến đi đâu?

Bởi Admin
12/04/2016
0 phản hồi
Mạnh Kim
Hồ sơ Panama Papers, cho đến thời điểm này, chưa thấy tiết lộ thông tin gì liên quan Việt Nam nhưng tổ chức nghiên cứu phi lợi nhuận Global Financial Integrity (GFI, Washington DC; được thành lập năm 2006 với mục đích khảo sát dòng tiền phi pháp tuồn ra nước ngoài của các quốc gia, đặc biệt các nước đang phát triển) đã thống kê số tiền phi pháp được tuồn khỏi Việt Nam. Báo cáo GFI công bố tháng 12-2015 cho biết, từ năm 2004 đến 2013, các nước đang phát triển thất thoát đến 7,8 ngàn tỷ USD với tỉ lệ tăng trung bình 6,5%/năm - gấp đôi tỉ lệ GDP toàn cầu.
Dòng chảy tài chính bất hợp pháp (illicit financial flows) được định nghĩa là những phi vụ chuyển tiền hoặc vốn từ nước này đến nước kia. Gọi là “bất hợp pháp” bởi nguồn tiền được chuyển là tiền có được từ những hoạt động phi pháp chẳng hạn buôn lậu hoặc tham nhũng. Việc lập công ty ma ở những thiên đường trốn thuế được xem là phi pháp và việc cắn xé nguồn vốn ODA để tư túi và chuyển cất ở nước ngoài tất nhiên cũng không hợp pháp. Với Việt Nam, báo cáo GFI cho biết, dòng tiền phi pháp chảy ra nước ngoài đã tăng liên tục:
Năm 2004: 4,034 tỷ USD
Năm 2005: 4,665 tỷ USD
Năm 2006: 4,964 tỷ USD
Năm 2007: 5,473 tỷ USD
Năm 2008: 7,633 tỷ USD
Năm 2009: 13,054 tỷ USD
Năm 2010: 8,358 tỷ USD
Năm 2011: 11,967 tỷ USD
Năm 2012: 14,940 tỷ USD
Năm 2013: 17,837 tỷ USD
Tổng cộng: 92,935 tỷ USD (tức trung bình 9,293 tỷ USD/năm)
Trong bài viết trên Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn (1-4-2016), kinh tế gia Vũ Thành Tự Anh cho biết, “trong 20 năm trở lại đây, chưa bao giờ bức tranh ngân sách xấu như bây giờ”. Không chỉ vậy, nợ công Việt Nam đang tiến đến ngưỡng “chết chùm”. Chiếc đồng hồ đo nợ công toàn cầu (cập nhật liên tục) của The Economist (truy cập ngày 12-4-2016) cho biết, nợ công Việt Nam hiện là 94.854.098.361 USD, tức mỗi đầu người, bất luận trẻ nhỏ hay cụ già, ông bán vé số hay cô nhân viên ngân hàng, phải gánh khoản nợ công là 1.039,67 USD. Điều trớ trêu là con số tổng thất thoát tài chính Việt Nam từ 2004 đến 2013 như nói ở trên (92,935 tỷ USD), mà tất nhiên người nghèo không hề liên quan, lại khá gần bằng với con số tổng nợ công (hơn 94,854 tỷ USD).
Trong bối cảnh kinh tế co thắt và khủng hoảng ngân sách sâu, bởi chủ yếu tình trạng thu chi bừa bãi và lạm dụng nguồn vốn vay ODA, tức một nền kinh tế cực kỳ bấp bênh không an toàn, người giàu chắc chắn còn tiếp tục chuyển tiền và tài sản ra nước ngoài, hợp pháp lẫn bất hợp pháp, như cơn sốt diễn ra lâu nay. Dòng tiền này dường như không được giám sát hoặc ngăn chặn. Cần biết, tổng ngân sách cho giáo dục năm 2015 là gần 225.000 tỷ đồng. Trong khi đó, mỗi năm lại có 9,293 tỷ USD (khoảng 207.187 tỷ đồng) được chuyển ra nước ngoài, một cách bất hợp pháp. Ai chuyển và bằng cách nào? Dĩ nhiên khi liệt kê hơn 140 quốc gia và công bố các thương vụ chuyển tiền ra nước ngoài bất hợp pháp hàng năm, GFI phải có nguồn. Họ không thể công bố bừa bãi mà không có bằng chứng. Chẳng phải tự nhiên mà Ngân hàng Thế giới tuyên bố ngưng cho vay ODA từ năm sau (2017).
Ngân sách khô hạn, tài chính quốc gia lại bị “xuất huyết”, đất nước xác xơ chỉ còn lại những tấm lưng nghèo. Người dân tiếp tục đối mặt với nợ chồng nợ, theo đà cơn sốt lễ hội tốn kém quanh năm và những công trình tượng đài chưa bao giờ mang lại phúc lợi xã hội và đóng góp cho tỷ lệ tăng trưởng kinh tế. Không dính dáng gì đến những cuộc “nhậu ngân sách” điên cuồng vô tội vạ, người dân bây giờ lại bị buộc phải “đổ vỏ”, phải gánh cái khoản nợ chết tiệt mà họ chưa bao giờ có trách nhiệm gây ra.
12998159_10154397888114796_5853543612507250382_o.jpg
Con số ước tính dòng tiền phi pháp chảy khỏi Việt Nam mỗi năm.
Đồng hồ nợ công của Việt Nam




__._,_.___

Posted by: Dien bien hoa binh 

Sunday, April 17, 2016

Kinh tế Trung Quốc khiến thế giới hoang mang


Kinh tế Trung Quốc khiến thế giới hoang mang

Chủ nhật, 17/04/2016, 07:14 (GMT+7)  

(Kinh tế) - Quá trình chuyển đổi tỷ trọng kinh tế của Trung Quốc mang theo nhiều hiểm hoạ tiềm tàng không chỉ với chính quốc gia này mà còn với cả phần còn lại của thế giới.

·          

Việc quản lý trong giai đoạn chuyển đổi tỷ trọng kinh tế, từ công nghiệp sang dịch vụ, của Trung Quốc giống như việc đi thăng bằng trên dây. Ảnh: Reuters
Việc quản lý trong giai đoạn chuyển đổi tỷ trọng kinh tế, từ công nghiệp sang dịch vụ, của Trung Quốc giống như việc đi thăng bằng trên dây. Ảnh: Reuters
Số liệu mới nhất của Trung Quốc cho thấy tốc độ tăng trưởng trong quý I/2016 của nước này chỉ đạt 6,7%. Suy thoái vẫn tiếp diễn. Tuy nhiên, con số này không cung cấp bất cứ câu trả lời dứt khoát nào về việc quốc gia này đang tác động đến phần còn lại của thế giới ra sao.
Theo BBC, vấn đề nằm ở việc quốc gia đông dân nhất thế giới sẽ quản lý quá trình thay đổi tỷ trọng kinh tế, từ công nghiệp sang dịch vụ, như thế nào. Quá trình này khiến tốc độ tăng trưởng của Trung Quốc giảm mạnh, chưa đến 10% mỗi năm – một con số được xem là không bền vững đối với quốc gia này.

Tuy nhiên, nếu Trung Quốc đạt tốc độ tăng trưởng tối thiểu trong 5 năm tới là 6,5% như giới chức nước này xác định, con số này vẫn khá ấn tượng so với các tiêu chuẩn quốc tế.

Đầu tư
Tỷ lệ đầu tư so với GDP ở Trung Quốc bắt đầu giảm. Ảnh: Getty
Tỷ lệ đầu tư so với GDP ở Trung Quốc bắt đầu giảm. Ảnh: Getty
Theo số liệu của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), tỷ lệ đầu tư so với tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Trung Quốc đạt 43%. Rất ít quốc gia có thể đạt đến con số này.
Tuy nhiên, nó là một vấn đề. Tỷ lệ đầu tư cao thường đi liền với các dự án cụ thể mà không khả thi, đặc biệt trong một nền kinh tế đang chững bước. Tình trạng này gây thiệt hại không nhỏ cho các doanh nghiệp có liên quan, những nhà đầu tư, bên cho vay và bên cung cấp tài chính.
Dù tỷ lệ đầu tư so với GDP ở Trung Quốc bắt đầu giảm, quá trình đó và sự suy thoái lan rộng đã, đang và sẽ tiếp tục ảnh hưởng tới phần còn lại của thế giới.
Nhiều báo cáo của IMF công bố trong tuần này về triển vọng kinh tế nói chung, sự ổn định tài chính và tài chính của các chính phủ trên thế giới nói riêng, tất cả đều nhắc đến tác động của suy thoái kinh tế Trung Quốc.
Báo cáo Triển vọng Kinh tế Thế giới của IMF vẽ lên một bức tranh đầy thất vọng sau cuộc khủng hoảng tài chính phương Tây, một nền kinh thế giới thất bại trong việc thu thập động lực nhằm tạo ra cú huých phục hồi mạnh mẽ. Và Trung Quốc là một phần của câu chuyện.
Nguy cơ
Tỷ trọng kinh tế Trung Quốc đang chuyển từ công nghiệp sang dịch vụ. Ảnh: Getty
Tỷ trọng kinh tế Trung Quốc đang chuyển từ công nghiệp sang dịch vụ. Ảnh: Getty
Quá trình chuyển đổi của Trung Quốc vẫn là mối nguy hiểm tiềm tàng cho phần còn lại của thế giới.
Tuy quốc gia này không hẳn là yếu tố duy nhất đằng sau câu chuyện, nhưng báo cáo chỉ ra rằng “mối quan ngại về tác động toàn cầu của việc loại bỏ tình trạng dư thừa trong nền kinh tế Trung Quốc trong bối cảnh nước này chuyển sang con đường tăng trưởng bền vững hơn sau một thập kỷ tăng trưởng mạnh về tín dụng và đầu tư”.
Báo cáo về Ổn định Tài chính Toàn cầu của IMF cũng xác định Trung Quốc là một nguy cơ. Suy thoái làm suy yếu sức khoẻ tài chính của nhiều doanh nghiệp Trung Quốc, làm tăng các vấn đề, khiến các ngân hàng phải đối mặt với những khoản cho vay không hiệu quả – tiền vay không được hoàn lại.

IMF cho rằng tình hình hiện nay là có thể quản lý. Tuy nhiên, nếu tình hình trở nên xấu đi, nó có thể ảnh hưởng tới phần còn lại của thế giới, đặc biệt là thị trường năng lượng.
Nguy hiểm nhất là tác động của Trung Quốc đến sản xuất hàng hoá. Làn sóng đầu tư trong quá khứ của Trung Quốc đồng nghĩa với nhu cầu về năng lượng và kim loại công nghiệp tăng cao.

Hiện tại, nhu cầu của nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới về các mặt hàng này giảm khiến giá thành của chúng lao dốc. Riêng với dầu, giá loại nguyên liệu này giảm còn do nguồn cung dồi dào.

Tình trạng giảm giá các mặt hàng tạo ra mối nguy mới cho sự ổn định tài chính tại các nước xuất khẩu và tác động mạnh tới tài chính chính phủ của các quốc gia này.

Nhiệm vụ bất khả thi?
Phần lớn tác động mang tính quốc tế của Trung Quốc nằm ở nhu cầu của nước này đối với hàng hoá có nguồn gốc nước ngoài.
Phần lớn tác động mang tính quốc tế của Trung Quốc nằm ở nhu cầu của nước này đối với hàng hoá có nguồn gốc nước ngoài.
Mục tiêu tốc độ tăng trưởng kinh tế mà giới chức Trung Quốc đặt ra ở mức thấp nhất là 6,5%. Điều đó khiến Captial Economics, một văn phòng tư vấn tại thành phố London (Anh), đặt câu hỏi trong một lưu ý với các khách hàng: “Có phải Trung Quốc đang cố gắng làm những điều không thể?”.
Văn phòng này nhận định, rất ít quốc gia có thể đạt mức tăng trưởng ấy và kết luận: Nếu Trung Quốc cố gắng đạt mục tiêu mà không nền kinh tế có quy mô tương đương nào có thể đạt tới, chúng ta có lý do để hoài nghi về khả năng thành công của họ.

Trong thực tế, các chuyên gia coi con số chính thức của Trung Quốc là không đáng tin cậy. Nhiều nhà kinh tế cho hay, tốc độ tăng trưởng thực sự của quốc gia này thấp hơn nhiều.

Tuy nhiên, điều này không có nghĩa Trung Quốc sẽ kéo thế giới vào một cuộc suy thoái mới. Nhưng nó khiến các nhà đầu tư cảnh giác với hiệu quả kinh tế của nước này.
Phần lớn tác động mang tính quốc tế của Trung Quốc nằm ở nhu cầu của nước này đối với hàng hoá có nguồn gốc nước ngoài. Tuy nhiên, quanh đó còn nhiều vấn đề quan trọng khác.

Martin Wolf tại Financial Times nhắc về tiềm năng khủng hoảng tại các quốc gia khi họ mở cửa hệ thống tài chính. “Thế giới có thể thất bại với việc đối phó với cuộc khủng hoảng tài chính đến từ Trung Quốc”, ông nói.

Vì vậy, điều mà phần còn lại của thế giới chú ý nhất ở hiện tại là việc Trung Quốc sẽ giữ thăng thằng trên “sợi dây” chuyển đổi kinh tế ra sao.
(Theo Zing News)
__._,_.___

Posted by: truc nguyen 

My Blog List