Hình ảnh nói lên: Sự kiện Tội Ác Việt Cộng ! ! !






https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEj6kLmYKa-hPj1HvFQ9_a90KHJhUV_iUMIMpX4OuUtcp6iY8tidLohE38X7ObP2c42O5V9-qDdwu0FmyTgJjcSZI_uM_-UibAiDC_1ucag_fkHs2pV3BymecImeC0W5_uks9TF3NPCej5k/s1600/babui-danlambao-%C4%90a%CC%82%CC%81t+nu%CC%9Bo%CC%9B%CC%81c+la%CC%80+ca%CC%81i+%C4%91uo%CC%82i+sam1.jpg








Friday, April 17, 2015

Cơ hội đầu tư ở VN trong mắt các nhà đầu tư Thái lan


Cơ hội đầu tư ở VN trong mắt các nhà đầu tư Thái lan

Anh Vũ, thông tín viên RFA
2015-04-16
Email
Ý kiến của Bạn
Chia sẻ
In trang này
04162015-VAV041515.mp3 Phần âm thanhTải xuống âm thanh
Sabeco có sản lượng bia lớn nhất tại Việt Nam hiện nay
Sabeco có sản lượng bia lớn nhất tại Việt Nam hiện nay
dautu-vn
VN đã trở thành địa điểm đầu tư ưa chuộng của các nhà đầu tư Thái Lan. Theo dự báo, trong 5 năm tới, các tập đoàn công ty lớn của Thái Lan sẽ biến VN thành một trung tâm  sản xuất  các sản phẩm nhãn hiệu Thái Lan, để xuất khẩu ra các nước khác.
Các chuyên gia kinh tế và các nhà đầu tư Thái lan nói gì về cơ hội  đầu tư của họ ở VN?
Việt Nam một thị trường hấp dẫn
Kể từ năm 1986, khi nhà nước VN tiến hành cải cách kinh tế để chuyển nền kinh tế từ nền kinh tế Kế hoạch hóa sang nền kinh tế thị trường đã thu hút một số lượng lớn các nhà đầu tư từ các nước.
Điều đó đã giúp nền kinh tế VN khởi sắc, đưa VN từ một nước thiếu đói triền miên sang một nước có thu nhập vào hạng trung bình và là quốc gia xuất khẩu gạo đứng hàng thứ 2 của thế giới.
Theo HSBC, với vị trí chiến lược của mình cùng dân số trẻ và chi phí thấp hơn Trung Quốc, Việt Nam đã và đang thu hút được nhiều nhà đầu tư từ các nước.
Theo Bộ Kế hoạch và Đầu tư Việt Nam, Thái Lan xếp hạng 10 trong các nước đầu tư nhiều nhất vào Việt Nam, tính cho tới tháng Ba năm 2015, với tổng cộng 374 dự án đã được cấp giấy phép, vớ tổng số vốn lên tới 6,7 tỷ đôla. Hiện nay, thị trường Việt Nam đã trở thành địa điểm đầu tư ưa chuộng của các nhà đầu tư Thái Lan,
VNN dẫn lời của Tổng Giám đốc Ngân hàng HSBC Việt Nam Phạm Hồng Hải, nói rằng ông tin rằng trong 5 năm tới, các tập đoàn công ty lớn của Thái Lan sẽ biến VN thành một trung tâm  sản xuất  các sản phẩm nhãn hiệu Thái Lan, để xuất khẩu ra các nước khác.
Đánh giá tiềm năng của kinh tế VN hiện nay, TS. Rakdao Phorthisark  thuộc Trung tâm nghiên cứu kinh tế AEC của Thái lan cho biết:
“Trong khối Asian VN đứng hàng thứ 7 với thu nhập bình quân đầu người chưa nhiều. Một thế mạnh của họ đó là sức mua rất lớn với lực lượng lao động trẻ với khoảng 62 triệu lao động, tuy vậy trình độ của lao động hiện có thiếu tính lành nghề. Chính sách đầu tư của nhà nước VN khá cởi mở và thông thoáng, song việc triển khai còn chậm và còn có một số trở ngại không đáng có. Tuy vậy, tôi nghĩ về lâu dài VN là một môi trường đầu tư có tiềm năng”
Triển vọng VN tham gia TPP là rất cao, thì đây là một thị trường 800 triệu người. Do vậy đây là cơ hội cho các nhà đầu tư Thái lan có ý định biến Việt Nam thành một trung tâm sản xuất các sản phẩm nhãn hiệu Thái Lan, để xuất khẩu ra các nước Peru, Mexico, Chile hay Bắc Mỹ
Ông RachKe Singh
Nói về lý do vì sao vào lúc này các nhà đầu tư Thái lan quan tâm đến việc đầu tư vào VN?
Ông RachKe Singh – Tổng thư ký Hiệp hội kinh doanh Thái-Việt cho biết:
’Triển vọng VN tham gia TPP là rất cao, thì đây là một thị trường 800 triệu người. Do vậy đây là cơ hội cho các nhà đầu tư Thái lan có ý định biến Việt Nam thành một trung tâm  sản xuất  các sản phẩm nhãn hiệu Thái Lan, để xuất khẩu ra các nước Peru, Mexico, Chile hay Bắc Mỹ.”
Theo VnEconomy cho biết, tập đoàn ThaiBev, một công ty sản xuất nước uống của Thái Lan, đã đề nghị mua lại 40% cổ phần của công ty Sabeco, công ty sản xuất bia lớn nhất Việt Nam. Dự kiến ThaiBev sẽ chi ra 1 tỷ đôla để thực hiện ý định của mình.
Hệ thống sản xuất bia của Sabeco
Hệ thống sản xuất bia của Sabeco
Trong khi đó, tập đoàn Amata đã xây dựng các khu công nghiệp tại Việt Nam trong 20 năm qua, vừa loan báo kế hoạch đầu tư 5 tỷ đôla vào một dự án xây dựng một thành phố mới ở tỉnh Quảng Ninh. Dự án này dự kiến sẽ sử dụng một diện tích rộng 6.400 ha, và thuê mướn 300.000 công nhân. Thành phố mới này sẽ gồm nhiều khu công nghiệp, một trung tâm hậu cần, các trung tâm nghiên cứu khoa học, các trường đào tạo và các khu triển lãm quốc tế.
Ông Suchat Rasthawong, một nhà đầu tư Thái lan cho rằng, các nhà đầu tư nên đầu tư 100% vốn của mình, không nên đầu tư chung vì quan điểm kinh doanh của các nước không giống nhau là nguyên nhân của sự bất đồng. Nói về lý do vì sao lựa chọn VN là nơi đầu tư, ông nói với chúng tôi:
“Tôi quyết định chọn VN là nơi đầu tư vì đây là một thị trường mới, nhu cầu của thị trường đối với lọai hàng hóa của chúng tôi rất cao. VN hiện nay có một cơ sở hạ tầng và chính sách đầu tương đối tốt, giá nhân công rẻ. Con người VN chịu khó làm việc và đặc biệt là đời sống của người dân ở đây có nhiều nét tương đồng với xã hội Thái lan”
Trở ngại
Khi được hỏi, những gì là trở ngại lớn nhất đối với các nhà đầu tư Thái lan khi đầu tư vào VN hiện nay?
Môi trường và chính sách đầu tư của VN khá thông thoáng nếu so với các nước khác trong khu vực. TS. Rakdao Prothisark  nhận định:
“Gía trị của đồng bạc VND là một trở ngại đáng kể, khi đồng VND yếu sẽ gây nên lạm phát, vì sự mất giá của VNĐ dẫn tới việc nhập khẩu hàng hóa, nguyên liệu đắt lên. Đây là một thách thức và là vấn đề lặp đi lặp lại mà phía nhà nước VN cần phải giải quyết bằng các chính sách vĩ mô để tránh sự thiệt hại cho các nhà đầu tư về lâu dài. Nếu họ giải quyết được vấn đề này thì tôi tin rằng khả năng thu hút các nhà đầu tư Thái lan sẽ tăng lên rất cao so với hiện nay.”
Gía trị của đồng bạc VND là một trở ngại đáng kể, khi đồng VND yếu sẽ gây nên lạm phát, vì sự mất giá của VNĐ dẫn tới việc nhập khẩu hàng hóa, nguyên liệu đắt lên. Đây là một thách thức và là vấn đề lặp đi lặp lại mà phía nhà nước VN cần phải giải quyết bằng các chính sách vĩ mô
TS. Rakdao Prothisark
Chính sách đầu tư của VN không nhất quán và thay đổi quá nhanh, nếu không cập nhật thường xuyên sẽ gây bất lợi cho nhà đầu tư. Ông RachKe Singh cho biết:
“Có nhiều nhà đầu tư từ nhiều công ty kể với tôi rằng, ví dụ một công ty mua một khu đất lớn và xây dựng nhà máy trên ½ diện tích và được hưởng ưu đãi không phải chịu thuế trong 5 năm. Khi tiến hành sản xuất được 4 năm, chủ nhà máy muốn mở rộng sản xuất bằng cách mở rộng nhà máy trên mảnh đất còn lại thì các quan chức chính quyền không cho. Họ bảo muốn mở rộng kinh doanh thì phải đầu tư mới ở một tỉnh khác, mới được hưởng ưu đãi như vậy. Cuối cùng miếng đất thừa đành bỏ không.”
Nói về bí quyết thành công của công ty CP-Vietnam, ông Suchsanchiem Chayswang – Tổng Giám đốc CP-Vietnam, có lời nhắn nhủ tới các nhà đầu tư Thái lan đang có ý định đầu tư vào thị trường VN. Ông nói:
CP-Vietnam phát triển nhanh chóng bởi có sự ủng hộ của người tiêu dùng, bởi vì chúng tôi kính trọng họ, những người chủ nhân của đất nước này. Cũng giống như tất cả cán bộ công nhân viên trong công ty CP-Vietnam của chúng tôi, đều được đối xử bình đẳng, được chăm sóc đầy đủ đến nơi đến chốn và chúng tôi luôn tạo điều kiện cho họ. Tôi nghĩ rằng, các bạn là người kinh doanh giỏi dù từ bất kỳ ở đâu đến, nhưng nếu bạn lãnh đạo con người không được, thì chắc chắn cơ hội  thành công của bạn sẽ không có.
Mỗi một quốc gia đều có những chính sách và ưu đãi đầu tư khác nhau, tuy vậy thông qua ý kiến của các nhà đầu tư Thái lan hy vọng chính quyền VN coi đó là những cơ sở để cải thiện môi trường đầu tư ở VN thông thoáng hơn, nhắm thu hút hơn nữa các nhà đầu tư nước ngoài. Đây là một giải pháp mà VN đã khá thành công trong gần 30 năm đổi mới kinh tế, để đưa kinh tế VN đi lên.


__._,_.___

Posted by: Dien bien hoa binh 

Tuesday, April 14, 2015

SÂN BAY TÂN SƠN NHẤT: SỰ THẬT VỀ CÂU CHUYỆN “TẮC NGHẼN BẦU TRỜI”, “CHỒNG LẤN VÙNG TRỜI”, VÀ “KHU VỰC CẤM BAY CỦA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH”


Chức tước quan chức đều từ kinh doanh do những nhóm lợi ích cuả những chóp bu lãnh chuá Đỏ thao túng.Tham nhũng theo quy hoạch đẻ ra những chuyện ngược đời,nhưng miệng quan có gang có thép!

http://phapluattp.vcmedia.vn/Images/Uploaded/Share/2011/08/05/18914063518-duan.jpg

SÂN BAY TÂN SƠN NHẤT: SỰ THẬT VỀ CÂU CHUYỆN “TẮC NGHẼN BẦU TRỜI”, “CHỒNG LẤN VÙNG TRỜI”, VÀ “KHU VỰC CẤM BAY CỦA THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH”

TS Nguyễn Bách Phúc (*)

Một lý do “nặng ký” mà Bộ Giao thông Vận tải đưa ra cho Dự án xây dựng sân bay Long Thành là “lỗi” của sân bay Quốc tế Tân Sơn Nhất, “việc mở rộng nâng công suất cảng hàng không này để đáp ứng nhu cầu 40-50 triệu hành khách/năm trong giai đoạn 2025-2030 là không khả thi”.Minh chứng điều này, Bộ đã đưa ra 4 cái lỗi.
Bài này xin bình luận lỗi thứ 2.
Về lỗi thứ 2, Bộ nói: “Hạn chế về khai thác vùng trời: Khu vực vùng trời tiếp cận dành cho tàu bay cất hạ cánh của Cảng hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất hiện tại chồng lấn với vùng trời tiếp cận của căn cứ không quân Biên Hòa ở phía Bắc. Mặt khác, khu vực cấm bay của thành phố Hồ Chí Minh nằm ngay phía Nam của Cảng hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất nên đã hạn chế rất nhiều không gian sử dụng cho tàu bay cất hạ cất cánh, đặc biệt khi có hoạt động bay quân sự tại khu vực Tân Sơn Nhất và Biên Hòa.
Thứ trưởng GTVT Phạm Quý Tiêu phát biểu tại tọa đàm về dự án đầu tư sân bay Long Thành, do Cổng thông tin điện tử Chính phủ tổ chức ngày 17/10. Thứ trưởng Phạm Quý Tiêu khẳng định lại việc cần thiết phải đầu tư xây dựng sân bay Long Thành, bởi Tân Sơn Nhất đã quá tải: “Sân bay Tân Sơn Nhất tắc nghẽn bầu trời, trong nhiều năm không quản lý được tĩnh không sân bay”.
Câu chuyện “TSN bị tắc nghẽn bầu trời”
Nghe Bộ GTVT nói TSN “tắc nghẽn bầu trời”, chắc mọi người hình dung ra cảnh tượng cả đàn máy bay ùn tắc chen lấn nhau trước lối vào TSN, giống như xe Honda chen chúc trước đèn đỏ, giành nhau từng centimet đường!
Hàng trăm sân bay trên thế giới, số lượng hành khách (HK) nhiều hơn TSN, 80-100 triệu HK/năm, tần suất cất hạ cánh lên đến 60 chuyến/giờ hoặc hơn, đều không hề có khái niệm tắc nghẽn bầu trời, tại sao chỉ có bầu trời TSN bị tắc nghẽn khi tăng hơn 20 triệu HK/năm?
Thử tính xem mức độ tắc nghẽn của TSN như thế nào, liệu có bao nhiêu máy bay chen lấn nhau, chúng giành nhau bao nhiêu centimet không gian:
     + Tần suất lớn nhất hiện nay của TSN, theo Cục trưởng Cục Hàng không VN là 29 chuyến/giờ.
Với tần suất này, TSN có thể đưa đón tới 80 triệu hành khách/năm, chứ không phải chỉ hơn 20 triệu (tham khảo bài “Có thể nâng Tân Sơn Nhất lên 80 triệu hành khách/năm, không cần giải phóng mặt bằng di dời dân cư, với tổng vốn đầu tư chỉ khoảng 3 tỷ USD).
     + Với tần suất 29 chuyến/giờ này thì số chuyến máy bay xếp hàng để cất cánh hoặc hạ cánh trong 1 giờ là: 29/2 = 14,5 chuyến.
     + Thời gian dãn cách giữa hai chuyến máy bay kế tiếp nhau là 1/14,5 = 0,07 giờ
     +Máy bay dân dụng hiện nay khi cất cánh hoặc hạ cánh thường bay với tốc độ 250 km/giờ.
     + Tính ra cự li xếp hàng dọc giữa hai máy bay kế tiếp nhau là (250 km/giờ) x (0,07 giờ) = 17,5 km.
Hóa ra máy bay xếp hàng dọc trước cửa TSN, khi lên xuống cấp tập nhất, 2 chiếc liên tiếp nhau vẫn cách nhau hơn 17 km, chứ không phải mấy centimet như honda trước đèn đỏ, sao lại gọi là tắc nghẽn bầu trời?
Câu chuyện “chồng lấn vùng trời với sân bay Quân sự Biên Hòa”
  • TSN và Biên Hòa nằm cạnh nhau hơn nửa thế kỷ nay, chưa nghe ai nói “chồng lấn vùng trời”, kể cả những năm chiến tranh ác liệt, máy bay lên xuống “nhiều như chuồn chuồn”, cớ sao hôm nay lại đẻ ra việc “chồng lấn vùng trời”?
  • TSN cách Biên Hòa 25 km, trong khi sân bay Changi của Singapore chỉ cách sân bay quân sự Paya Lebar 8 km, nhưng không ai nói sân bay Changi của Singapore chồng lấn với sân bay quân sự Paya Lebar, cớ sao lại nói TSN chồng lấn với Biên Hòa?
  • Vùng trời tiếp cận cất hạ cánh, là vùng trời tiếp giáp với đường băng sân bay, với chiều dài 40 dặm (khoảng 72 km), chiều rộng khoảng 9 km, chiều cao dưới 3000 mét, là vùng trời được quốc tế quy định giao cho Trạm kiểm soát APP điều khiển không lưu, tức là APP hoàn toàn chịu trách nhiệm điều khiển các máy bay chuẩn bị hạ cánh hoặc sau khi cất cánh. Như vậy “Vùng trời tiếp cận cất hạ cánh” thực chất chỉ là một vùng quy ước, là vùng được kiểm soát chặt chẽ bởi APP chứ không phải là vùng cấm máy bay qua lại.
Ở Việt Nam có 3 Trạm APP, trong đó Trạm APP ở miền Nam, kiểm soát vùng trời tiếp cận của tất cả sân bay ở miền Nam. Hai sân bay ở gần nhau đều được một Trạm APP kiểm soát, nếu vùng tiếp cận có chồng lấn lên nhau đi nữa thì vẫn do cùng một Trạm APP kiểm soát, nên sẽ không có bất cứ phiền toái nào.
Ngoài ra, vùng trời tiếp cận của TSN nằm giữa 2 vùng trời tiếp cận của sân bay Biên Hòa và của sân bay Long Thành, khoảng cách từ vùng trời tiếp cận của TSN đến vùng trời tiếp cận của Long Thành gần hơn của Biên Hòa, cớ sao Bộ GTVT chỉ nói TSN và Biên Hòa chồng lấn, mà bỏ qua chồng lấn giữa TSN hiện hữu và Long Thành tương lai? Nếu sự chồng lấn này là thực sự nguy hiểm thì cớ sao Bộ lại chấp nhận sự nguy hiểm đó khi quyết định xây dựng sân bay Long Thành?
Câu chuyện “khu vực cấm bay của thành phố Hồ Chí Minh”
Khi nghe Bộ GTVT nói như vậy, ai cũng ngỡ ngàng không biết khu vực cấm bay của TP.HCM là khu vực nào, rộng hẹp bao nhiêu, cấp nào ra quyết định cấm bay, cấm bay vì mục đích gì?
Chúng tôi may mắn được Cụ Lê Trọng Sành, nguyên Trưởng phòng Quản lý bay sân bay TSN giải thích cho như sau: Khi hạ cánh, những máy bay cỡ nhỏ với sức tự hãm trên đường băng tương đối kém nên Trạm APP phải “lựa theo chiều gió” để chọn cho những máy bay này hướng hạ cánh sao cho ngược với chiều gió. Chẳng hạn ở TSN máy bay thường xuyên hạ cánh theo chiều từ Đông sang Tây, nhưng đôi khi các máy bay nhỏ phải bay vòng vượt qua sân bay TSN rồi quay ngược lại để hạ cánh theo hướng từ Tây sang Đông. Với những máy bay nhỏ, vòng lượn này thường nhỏ, đoạn song song với đường băng thường cách đường băng 5 đến 7 km, sau khi máy bay vượt quá đường băng chừng 10 km thì sẽ quay vòng lại để hạ cánh. Vùng mặt đất được giới hạn bởi đường quay vòng hạ cánh tạm gọi là Vùng quay vòng hạ cánh.
Thông thường Vùng quay vòng hạ cánh nằm hai phía của sân bay. Với sân bay TSN là vùng phía Bắc và phía Nam, hiện tại vùng đất kế cận đường băng ở phía Nam là khu vực có rất nhiều nguy cơ cháy nổ, như kho chứa xăng máy bay, bãi đậu của hầu hết các loại máy bay, bãi đậu của máy bay trực thăng, đều là vùng nguy hiểm cháy nổ, nếu máy bay khi quay vòng bay trên vùng này có thể xuất hiện nguy cơ cháy nổ khi không may gặp sự cố. Vì vậy cơ quan Quản lý Hàng không VN quy định Vùng quay vòng hạ cánh phía Nam TSN là vùng cấm bay.
Như vậy, Bộ GTVT gọi vùng cấm bay này là “Vùng cấm bay của TP.HCM” là hoàn toàn không đúng, bởi vì TP.HCM không có vùng cấm bay nào cả!
Nhưng điều quan trọng nhất là, vùng cấm bay này không ảnh hưởng gì đến mật độ và lưu lượng lên xuống của máy bay ở sân bay TSN, không ảnh hưởng gì đến công suất của TSN, bởi một lẽ đơn giản rằng TSN vẫn còn vùng quay vòng ở phía Bắc không bị cấm, và giả sử một lúc nào đó, vùng quay vòng ở phía Bắc quá chật chội thì APP vẫn có thể cho phép máy bay quay vòng về phía Nam, chỉ cần nằm ngoài phạm vi cấm bay, tức là cách xa đường băng trên 7 km.
Thật tình chúng tôi không thể nào hiểu nổi, tại sao Bộ GTVT lại trình Quốc hội rằng “khu vực cấm bay của thành phố Hồ Chí Minh nằm ngay phía Nam của Cảng hàng không quốc tế Tân Sơn Nhất nên đã hạn chế rất nhiều không gian sử dụng cho tàu bay cất hạ cất cánh”?
N.B.P.
(*) Tác giả: TS Nguyễn Bách Phúc là Chủ tịch Hội Tư vấn Khoa học công nghệ & Quản lý TP.HCMHASCON và là Viện trưởng Viện Điện – Điện tử – Tin học EEI



SỰ THẬT VỀ KHOẢNG CÁCH GIỮA HAI ĐƯỜNG BĂNG SONG SONG

TS Nguyễn Bách Phúc (*)

Một lý do quan trọng để biện minh cho việc không thể nâng cấp sân bay Tân Sơn Nhất mà Bộ GTVT đưa ra là: khoảng cách giữa hai đường băng của Tân Sơn Nhất chỉ có 365 mét, không đạt tiêu chuẩn của ICAO. Từ đó khi nói về việc nâng cấp Tân Sơn Nhất, Bộ bảo phải làm thêm một đường băng mới cách đường băng cũ khoảng 1.400 m cho phù hợp với tiêu chuẩn của ICAO, tương ứng phải giải phóng một vùng đất rộng tới 1.500 ha và buộc phải di dời 140.000 hộ gia đình với khoảng 500.000 ngàn dân, chi phí di dời tới 9,1 tỷ đô la!
ICAO, Tổ chức hàng không dân dụng quốc tế của Liên Hợp Quốc không hề đưa ra “tiêu chuẩn” cho khoảng cách giữa hai đường băng”, mà ICAO chỉ đưa ra khuyến nghị. Tại phụ lục 14 về cảng hàng không, trong Chương 3, là phần khuyến nghị cho khoảng cách giữa hai đường băng song song. Khuyến nghị này rất chi tiết, liên quan đến mức độ lớn nhỏ của sân bay, chiều dài chiều rộng và đặc tính của đường băng, các chế độ cất hạ cánh độc lập hỗn hợp, v.v.
Áp dụng khuyến nghị này vào trường hợp cụ thể của Tân Sơn Nhất, có hai đường băng song song cấp 4D, dài 3200 m và 3800 m, hoạt động không độc lập, cất hạ cánh hỗn hợp (cả hai đường băng cho phép cất và hạ cánh), sẽ thấy rằng khoảng cách tối thiểu giữa hai đường băng phù hợp với khuyến nghị là 300 mét. Trong khi khoảng cách ở Tân Sơn Nhất là 365 mét.
Đối với trường hợp hai đường băng song song hoạt động đồng thời và độc lập, và chỉ cất hoặc hạ cánh, thì ICAO khuyến nghị khoảng cách lớn hơn, từ 760 mét đến 1400 mét.
Vì chỉ là “khuyến nghị”, chứ không phải là “tiêu chuẩn” có tính bắt buộc, nên trên thế giới có nhiều sân bay quốc tế, công suất hàng chục triệu hành khách năm, nhưng khoảng cách giữa 2 đường băng song song còn nhỏ hơn 300 mét.
Ở nước Mỹ có nhiều sân bay như thế. Ví dụ Sân bay quốc tế San Francisco ở thành phố San Francisco, California, có các chuyến bay đến khắp châu Mỹ và là một cửa ngõ chính đến châu Âu, châu Á và châu Đại Dương, là sân bay quốc tế lớn nhất trong khu vực vịnh San Francisco. Năm 2007, sân bay này phục vụ 36 triệu hành khách, xếp hạng thứ 23 trong các sân bay bận rộn nhất thế giới. Nhưng hai đường băng song song của Sân bay này chỉ cách nhau có 228 mét!
Sân bay quốc tế Thành phố Mexico là sân bay thương mại phục vụ thành phố Mexico, thủ đô Mexico. Đây là sân bay quan trọng nhất, bận rộn nhất và lớn nhất  nước Mexico, kết nối với hơn 100 điểm trên thế giới, phục vụ 32 triệu lượt khách mỗi năm. Hai đường băng song song của sân bay này chỉ cách nhau có 310 mét!
Sự thật là như thế! Tại sao Bộ GTVT và Cục Hàng không VN cứ nói ngược lại?
N.B.P.
(*) Tác giả: TS Nguyễn Bách Phúc là Chủ tịch Hội Tư vấn Khoa học công nghệ & Quản lý TP.HCMHASCON và là Viện trưởng Viện Điện – Điện tử – Tin học EEI.
__._,_.___

Posted by: Dien bien hoa binh 

Nhiều lô hàng tôm VN nhập khẩu vào Hoa Kỳ bị từ chối

Nhiều lô hàng tôm VN nhập khẩu vào Hoa Kỳ bị từ chối

RFA-13-04-2015

Khâu chuẩn bị tôm xuất khẩu trên một dây chuyền chế biến tại Nhà máy chế biến thủy sản Kim Anh ở tỉnh Sóc Trăng, ngày 21 tháng 2 năm 2004.
Khâu chuẩn bị tôm xuất khẩu trên một dây chuyền chế biến tại Nhà máy chế biến thủy sản Kim Anh ở tỉnh Sóc Trăng, ngày 21 tháng 2 năm 2004.
 AFP
Trích dẫn tin từ Hiệp Hội Chế Biến Và Xuất Khẩu Thủy Sản Việt Nam VASEP, báo chí Việt Nam đưa tin cho biết một số lô hàng tôm Việt bị Hoa Kỳ từ chối về nhiễm kháng sinh.
Con số được VASEP đưa ra cho thấy tình đến hết tháng Hai năm nay, Cở Quan Quản Lý Thực Phẩm Và Dược Phẩm Mỹ đã từ chối nhập khẩu 107 lo tôm của nhiều nước, trong đó có Việt Nam. VASEP nói rõ dư lượng kháng sinh là nguyên nhân chính khiến tình trạng hàng bị từ chối xảy ra.
Các bản tin chúng tôi có được viết rằng đây không phải lần đầu tiên chuyện tôm Việt Nam bị Hoa Kỳ từ chối, VASEP đã nhiều lần kêu gọi các doanh nghiệp phải thật thận trọng để đừng gặp khó khăn khi đưa tôm vào thị trường Mỹ, là thị trường nhập khẩu tôm lớn nhất của Việt Nam, với kim ngạch trên 1 tỷ dollars/năm, tức chiếm 1/4 tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản của quốc gia.


Sunday, April 12, 2015

CUỘC CHIẾN TIỀN TỆ



Sujet :
Fwd: CUỘC CHIẾN TIỀN TỆ
Date :
Sat, 11 Apr 2015 08:58:13 +0200
De :
Tieng Nguyen <

fw



CUỘC CHIẾN TIỀN TỆ

                                                                                                                           ĐỊNH NGUYÊN

            Các cường quốc trên thế giới có nhiều cuộc chiến để tranh nhau làm bá chủ thiên hạ.  Ngoại trừ những cuộc chiến trực diện về quân sự trên chiến trường, họ còn có những cuộc chiến âm thầm khác dưới hình thức những cuộc chạy đua, quan trọng nhất là chạy đua vũ trang và chạy đua kinh tế.   Chạy đua vũ trang và kinh tế đã và đang diễn ra bấy lâu nay, và sẽ diễn ra mãi mãi, không có gì đáng bàn.  Điều đáng quan tâm là hiện nay đang xẩy ra một cuộc chiến/một cuộc chạy đua mới, đó là cuộc chiến/chạy đua tiền tệ do Trung cộng châm ngòi.  Với cuộc chiến/chạy đua nầy, tình hình thế giới sẽ có thay đổi quan trọng, thế lực của nước Mỹ theo đó cũng sẽ có thể bị suy giảm.
            Thật ra, tiền tệ cũng thuộc lãnh vực kinh tế.  Nhưng ngoài giá trị đích thực về kinh tế, ảnh hưởng đồng tiền của một quốc gia đối với thế giới đã bước qua một lãnh vực khác phức tạp và quan trọng hơn, đó là chính trị.  

                 Tiền tệ của nước nào được nhân loại ưa dùng nhất, vị thế của quốc gia đó quan trọng nhất trên thế giới.  Từ lâu, nước Mỹ là cường quốc số một, là một Super Power không những nhờ khả năng quân sự, kinh tế vượt trội mà còn nhờ ảnh hưởng vô địch của đồng tiền của họ trên toàn thế giới.  Tuy Dollar không phải là đồng tiền có giá trị cao nhất toàn cầu nhưng nó lại là đồng tiền thông dụng nhất trên thế giới, thông dụng hơn cả các đơn vị tiền tệ có giá trị cao hơn nó như đồng Bảng Anh, đồng Euro. 

             Đi du lịch bất cứ nơi đâu trên thế giới, đồng Dollar cũng đều xài được.  Tại Việt Nam, bên cạnh tiền Đồng, Dollar vẫn rất được mọi giới ưa chuộng trong giao dịch buôn bán và đầu cơ tích trữ.   Khoan nói những dịch vụ lớn, những chuyện vặt hằng ngày như đi xích lô, xe thồ, taxi, vào tiệm ăn… đều có thể dùng Dollar để thanh toán trực tiếp được (mà người ta còn khoái nữa chứ).  Ngay tại Trung Hoa lục địa, nơi đang thai nghén âm mưu tiêu diệt ảnh hưởng của Mỹ, đồng Dollar vẫn thịnh hành, người Hoa lục rất thích.  Có thể nói, đồng Dollar là “quyền lực mềm” quan trọng nhất của Mỹ, nó đã và đang “thống trị” thế giới.  Tất cả các dịch vụ mua bán, trao đổi hàng hoá… trên thế giới, kể cả các nước thù địch với Mỹ, đều căn cứ vào mệnh giá của đồng Dollar.

            Ảnh hưởng rộng lớn nầy của đồng Dollar sẽ bị thách thức vì hiện nay Trung cộng thành lập ngân hàng Asia Infrastructure Investment Bank (AIIB).  Tuy giới hạn trong việc cho các nước đang phát triển ở Á châu vay tiền nhưng AIIB cũng có một mục đích chiến lược lâu dài nhắm vào người Mỹ. 

            Đã nhiều thập kỷ, với “quyền lực” của đồng Dollar, Mỹ dùng ảnh hưởng của mình qua hệ thống các ngân hàng World Bank (WB), Quỹ Tiền Tệ Quốc Tế/International Monetary Fund (IMF) và Ngân Hàng Phát Triển Á Châu/Asian Development Bank (ADB) để củng cố sự quan hệ của mình với Âu châu và các nước đồng minh châu Á, đồng thời áp lực các nước đang phát triển đi theo những giá trị và nề nếp phương Tây.  Muốn vay tiền (Dollar) để phát triển đất nước, các xứ nầy phải theo các điều kiện của Mỹ, họ không có một nguồn cung cấp tài chánh nào khác, không có một sự lựa chọn nào khác.   Với sự ra đời của AIIB, tình hình nầy sẽ thay đổi, các nước cần vay tiền sẽ có một hướng mới để đi.
           
            AIIB VÀ THAM VỌNG BÁ CHỦ THẾ GIỚI

            Nhất cử lưỡng tiện, với AIIB, Trung cộng muốn tấn cộng trực tiếp vào vị thế đệ nhất siêu cường của Mỹ hiện nay, và về lâu về dài làm giảm hoặc triệt tiêu ảnh hưởng của đồng Dollar trên thị trường thế giới, thay thế bằng đồng tiền của họ, đồng Nhân Dân Tệ (Yuan).  

            Theo dõi thời sự quốc tế, không ai lạ gì với những từ như “Sanction” (Trừng phạt), “Embargo” (Cấm vận), “Surveilance” (Giám sát)… mà Mỹ, với thế lực của một siêu cường trong đó một phần nhờ sức mạnh của đồng Dollar, đã áp đặt lên các quốc gia “cứng đầu” như Nga, Bắc Hàn, Iran… Với sự ra đời của AIIB, các hình thức chế tài trên bị giảm tác dụng.  Trung cộng muốn đánh gục cái gọi là “Cây gậy và củ cà rốt” của Mỹ.  Điều đáng lo hơn nữa là, cho đến nay đã có 48 nước và vùng lãnh thổ trong đó có các đồng minh chiến lược của Mỹ lâu nay tham gia AIIB của Trung cộng.  Nước đồng minh tiên phong tham gia AIIB là nước Anh.  Theo chân nước Anh, các nước Pháp, Đức, Ý, Thuỵ sỹ, Ả Rập Asudi cũng sẽ tham gia. 

         Ngoài ra, bốn đồng minh cật ruột của Mỹ là Nam Hàn, Đài Loan, Úc và Nhật cũng có thể tham gia AIIB.  Chưa hết, “The IMF” và World Bank tuyên bố họ sẽ hợp tác với AIIB.  Như thế, trong tương lai, một nước Mỹ bị cô lập hoặc bị chặt bớt vây cánh là điều rất có thể xẩy ra.  Tin tức tôi đọc được từ một bài báo trên Yahoo News có tựa đề “IMF BACKS CHINA PLAN TO ANNIHILATE THE DOLLAR” (IMF ủng hộ kế hoạch của Trung cộng nhằm vô hiệu hoá sức mạnh của đồng Dollar) đã chứng tỏ Mỹ đang lo lắng.  Họ đặt câu hỏi: “Should China’s plan to position the Yuan as a world reserve currency serve as a warning sign that something much more dangerous is approaching?” (Kế hoạch của Trung cộng nhằm đưa đồng Yuan trở thành quỷ dự trữ tiền tệ thế giới có phải là một cảnh báo cho những gì thật nguy hiểm đang đến gần không?”.  Theo ông Jim Rickards (the CIA Asymmetric Warfare Advisor), câu trả lời là “Có” (Yes)!  Trong một cuộc phỏng vấn, ông ta tiết lộ 16 cơ quan tình báo của Hoa Kỳ đã bắt đầu chuẩn bị cho Thế chiến thứ III.  Có người còn đi xa hơn, tiên đoán chiến tranh sẽ xẩy ra trong vòng 6 tháng!!!
             
            Nếu AIIB là sản phẩm của một quốc gia tự do dân chủ nào đó, với mục đích cạnh tranh lành mạnh thì không ai thắc mắc làm gì.  Đằng nầy AIIB là con đẻ của Trung cộng, một quốc gia cộng sản độc tài và rất hung hăng với tham vọng muốn độc chiếm biển Đông và nuốt chửng các nước nhỏ tại Á châu thì không khó để nhìn thấy âm mưu chính trị của Trung cộng nhắm vào nước Mỹ, nước duy nhất có thể làm cho cuồng vọng của họ bị thui chột.
            Cho AIIB ra đời, Trung cộng muốn phá vỡ thế độc tôn của đồng Dollar. 
            Cho AIIB ra đời, Trung cộng muốn triệt hạ uy thế của Mỹ để dần dần dành thế siêu cường số một. 
            Trước hết, Trung cộng nhắm đánh Hiệp định Đối tác Kinh tế chiến lược xuyên Thái Bình Dương TPP (Trans-Pacific Strategic Economic Partnership Agreement).  Tuy không phải là người chủ xướng nhưng Mỹ ủng hộ mạnh mẽ hiệp định TPP nầy, và chắc chắn họ sẽ là một thành viên quan trọng.  Và, nếu là một thành viên quan trọng, Mỹ sẽ củng cố và bành trướng sự hiện diện của mình (cũng như đồng Dollar) tại châu Á và vành đai Thái Bình Dương.  Để khỏi bị cô lập khi TPP thành hình, Trung cộng đã “tiên hạ thủ vi cường”, ra tay phá hiệp định nầy trước bằng sự ra đời của AIIB!   

            Phải công nhận Trung cộng chơi đòn nầy độc thiệt.  Nhưng từ “đòn độc” tức là cuộc chiến/chạy đua tiền tệ nầy đến việc triệt hạ Mỹ để trở thành bá chủ thế giới không dễ dàng chút nào.  AIIB có thể làm giảm ảnh hưởng của đồng Dollar, vô hiệu hoá một phần sức ép của Mỹ đối với các nước nhược tiểu hay đang phát triển, thậm chí cả nước lớn như Nga.  Nhưng để mộng bá chủ có thể trở thành bá chủ thật sự, Trung cộng phải đi một con đường dài đầy khó khăn trắc trở.  Về mọi mặt, Trung cộng vẫn đứng sau Mỹ. 

 Kinh tế đứng thứ hai (?), sau Mỹ.  Về quân sự Trung cộng vẫn là “đàn em” Mỹ về mọi phương diện.  Hoa lục, dưới mắt của mọi người, chỉ là một vương quốc làm hàng nhái hoặc theo đuôi người khác, chẳng có phát minh nào độc đáo để thiên hạ nể mặt.  Đã từ lâu, Mỹ có hàng chục hàng không mẫu hạm nguyên tử tối tân có mặt trên khắp các đại dương trong khi, mới đây, Trung cộng chỉ có chiếc Liêu Ninh mua đồ phế thải của người ta về tu sửa lại để làm oai.  Nếu Mỹ “giậm chân tại chỗ”, Trung cộng cũng phải mất hàng chục năm mới bắt kịp.  Ngoài ra, vấn đề tự do, dân chủ, nhân quyền và dân quyền Trung cộng vẫn còn quá bết bát, không thể làm gương cho thiên hạ được. 

 Đó là chưa kể nội tình bất ổn của Trung cộng với sự chống đối âm ỉ để đòi độc lập của các dân tộc Tây Tạng, Ngô Duy Nhĩ, Mông Cổ… Muốn được là “thiên hạ đệ nhất nhân”, Trung cộng phải trực diện đối đầu với Mỹ bằng quân sự, thực hiện được một chiến thắng toàn diện dứt điểm Mỹ trên mọi phương diện, trên mọi ngõ ngách địa cầu mới được.  Điều nầy đối với Trung cộng vẫn chỉ là một ước mơ xa vời mà thôi.  Trường hợp, để chia chác quyền lợi, Mỹ ngồi yên cho Trung cộng xâm chiếm các nước nhỏ ở Đông Nam Á và biến biển Đông thành “ao nhà” thì họ cũng chỉ là một cường quốc cấp vùng, một loại “cao bồi làng” mà thôi.

            Về phía người Mỹ, chắc chắn họ sẽ không khoanh tay ngồi nhìn để bị hạ bệ.  Họ sẽ làm gì?  Phát động chiến tranh tiêu diệt Trung cộng?  Điều nầy khó ai biết được, nhưng chắc chắn họ sẽ hành động.  Hy vọng hai chính đảng của Mỹ không đấu đá vì quyền lợi riêng tư như hiện nay mà bắt tay phối hợp tìm ra một giải pháp tối ưu để giữ vững uy thế của Mỹ cũng như đồng Dollar một cách hiệu quả nhất.

                                              Sacramento, CA thượng tuần tháng tư, năm 2015
                                         
                                                                          ĐỊNH NGUYÊN
                                                 (viết theo tài liệu Tuần báo Time, số ra ngày April 06, 2015)




Trung Cộng Trên Đà Suy Sụp

08/04/2015

Vạn vật vô thường, từ nhân sinh đến vũ trụ không ai thoát khỏi qui luật: sinh, thành, hoại, diệt. Chánh trị là một mặt sống của chúng sinh cũng không tránh khỏi lẽ vô thường. Chủ nghĩa có khai sinh, có trưởng thành, thì cũng có suy tàn và sụp đổ. Nhiều dấu chỉ cho thấy Trung Cộng, thời đại Tập cận Bình là thời đại chủ nghĩa Cộng sản, chánh trị đang trên đà suy tàn và kinh tế trên đà sụp đổ.

Một, ý thức hệ CS suy tàn. Chủ nghĩa CS trên hình thức và nội dung coi như đã thất bại suy tàn từ khi Liên xô và các nước CS Đông Âu sụp đổ. Hai chế độ CS Trung Quốc và Việt Nam, dựa vào kinh nghiệm Đông phương quyền biến, chuyển hệ tư duy sang kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, đổi màu xanh vỏ đỏ lòng nên mới tồn tại tới ngày nay. Còn CS Bắc Hàn nhờ đóng cửa rút cầu khép kín nhứt hành tinh và CS Cuba nhờ thắc lưng buộc bụng “chống Mỹ cứu nước” nên hấp hối tới ngày nay.

Chủ Tịch Đặng Tiểu Bình là một lãnh tụ CS đầu óc thực dụng chánh trị còn chánh trị gia “thực dụng” Mỹ nữa. Ông ví chủ nghĩa kinh tế tập trung cộng sản và tư bản như con mèo, mèo đen hay mèo trắng con nào bắt chuột được cũng tốt, nên chuyển sang kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa để CS còn có thể độc tài đảng trị toàn diện. Nói khác, tức là chuyển sang kinh tế tư bản lấy tư nhân làm gốc nhưng ôm chặt kiểu cai trị độc tài CS. Giống như bắt con nòng nọc ở hoài dưới nước, sống phản thiên nhiên, phản tiến hoá, không cho chuyển lớn lên thành con cóc, con nhái lên bờ được thở không khí của trời cao đất rộng nên sau vài chục năm đã bắt đầu thành quái thai nên suy tàn do nội tiết bên trong và môi trường bên ngoài tác động.

Suy tàn nội tại. Tập cận Bình, người có quyền lực nhứt của Đảng Nhà Nước TC thấy triệu chứng đảng CS suy tàn vì tham nhũng nên tung ra đòn “đả hổ diệt ruồi” tham nhũng. Nhưng vì quyền lực bản chất là thuốc phiện, không ai kiểm soát nên sanh chứng độc tài, độc tôn, độc quyền. Ô Tập dùng vũ khí chống tham nhũng để triệt hạ đối thủ nhiều hơn làm sạch đảng. Ông triệt những người như Bạc hi Lai đối thủ trong Bộ Chánh trị, Chu vĩnh Khang coi công an, Tướng Từ tài Hậu coi nội bộ Quân uỷ trung ương. Vì giết hại “đồng chí”, nên các đồng chí phản ứng sinh tồn, âm thầm kết phe chống Ông. Bên cạnh còn có nỗi sợ làm cán bộ đảng viên bị đông lạnh, không dám, không dại gì làm, khiến Tập cận Bình cô đơn giữa đám kẻ thù thầm lặng ngày càng đông, càng nguy cho Ông.

Còn ngoài xã hội, Ô. Tập cận Bình muốn cho nổi bật hơn trong “quần chúng nhân dân”. Sẵn nắm trong tay bộ máy tuyên truyền, bịnh sùng bái cá nhân, thần thánh hoá lãnh tụ có sẵn trong máu của người CS, phe đảng của Ông tung ra cả một chiến lược tuyên truyền hình ảnh của Tập Cận Bình khắp các cơ quan, cùng làng khắp chợ, đầy quán, đầy tiệm. Trên phương diện tâm lý chánh trị xã hội học, sự kiện này nói lên mặt trái của TC, đó là lớp xi mạ vàng của bức tượng bằng gỗ mục của thế cầm quyền.

Quá lo diệt thù trong Đảng, Ông Bình sợ giặc trong quốc gia dân tộc. Ô Bình là người lãnh tụ Đảng Nhà Nước TC trấn áp các nhà đối lập và các dân tộc thiểu số như Tây Tạng và Duy ngô nhĩ mạnh bạo nhứt. Ông tung ra cả chiến lược tuyên truyền cấm đoán các đại học TQ tiếp cận nên học thuật Tây Phương cho thấy cái lạc hậu, thiếu hiểu biết, lỗi thời của Đảng Nhà Nước TC trong thời dại tin học. Cấm người Duy ngô nhĩ gốc Hồi Giáo chay tịnh trong mùa Chay, cấm phụ nữ choàng khăn trên mặt. Nguoi Duy ngô nhĩ phản ứng bằng tấn công cảm tử đối với TQ. Ông tăng cường sách lược cào bằng văn hoá Phật Giáo của người Tây Tạng. Ngươi Tây Tạng, tăng ni Phật tử tự thiêu nay gần 12 vị. Càng cấm dân chúng, dân chúng càng hiếu kỳ, càng cố tìm cách để tiếp cận, càng thiết tha bảo tôn với tôn giáo và văn hoá mình.

Đối với các nước, thời đại Tập cận Bình mới hai năm nhưng là thời đại xâm lấn biển đảo của các nước Á châu Thái bình dương ngang ngược, táo bạo nhứt. Chính vì vậy các nước lân cận phải liên kết phòng chống TC. Mỹ chuyển trục quân sự về Á châu. Nhựt, Úc, Ấn, Nam Dương liên minh. Phi luật tân, VN và các nước khác trong ASEAN liên kết phòng chống TC. TC phải chạy đua võ trang gần hụt hơi.

Về kinh tế các tập đoàn đa quốc gia, các nhà đầu tư ngoại quốc khác chào TC bằng chân vì TC tăng lương công nhân, mất sức thu hút. Nhiều đại công ty ngoại quốc như Nhựt Citizen bỏ rơi Trung Quốc, do giá thành sản xuất cao. Nhựt dời sang Thái Lan, Việt Nam, Nam dương hay quay về nước vì TC bài Nhựt sau khi Nhựt chông lại hành động của TC lấn chiếm đảo Senkaku của Nhựt.

Hàng hoá nhứt là thức ăn, thức uống, thuốc Tàu, nhãn hiệu “made in China” bán rẻ tiền không còn thu hút người tiêu thụ nữa mà đa số bị nhiều nước tẩy chay vì độc hại.

Năm 2015, là năm tồi tệ của kinh tế TC. Mức tăng gia kinh tế chỉ còn 7% thấp nhứt trong vòng 30 năm trở lại đây. Vì gần 30 năm kềm “giá lương tiền” của người lao động, con giun xéo riết cùng vùng, công nhân thường biểu tình đòi tăng lương, cải thiện điều kiện làm việc. 20% dân số khoảng 260 triệu dân từ nông thôn ra thành làm công, không hộ khẩu, như sanh vô gia cư, tử vô địa táng. 66 triệu tức 22% trẻ em của TC, con em của những ngươi này bị bỏ rơi ở nông thôn. Hố ngăn cách nghèo giàu quá sâu rộng giữa thành thị và nông thôn, giữa miền biển tập trung kỹ nghệ và miền nội địa núi rừng nghèo khổ. Trước những hậu quả do đổi mới kinh tế gây ra, Đảng Nhà nước TC sợ xã hội loạn lạc, tăng công xá lên, cải thiện điều kiện lao động, các công ty Nhựt, Mỹ, Liên Âu chào TC bằng chân, biến nhiều khu kỹ nghệ của TC thành thành phố ma hoang vắng.

Toàn xã hội TC, đầy dẫy bất bình đẳng ngún cháy, thiếu vắng an sinh xã hội hiệu quả, chán chường về nạn ô nhiễm môi sinh và tham nhũng quan liêu, người người cảm giác bất an. Chưa lúc nào người nghèo ở TQ khôn như bây giờ,

Còn đảng viên, cán bộ CS và đám người cơ hội ăn theo CS lo thu vén cuối đời, gởi ngoại tệ cất dấu, gởi con du học ngoại quốc chuẩn bị cho hy vọng hạ cánh an toàn sống cuối đời ngoài chế độ CS.

Cuộc chiến chống tham nhũng của Tập cận Bình không cứu được, không cải cách được chế độ mà trái lại đã và đang làm cho đảng phân hóa chia rẽ, chế độ suy tàn. Vì Ô Tập dùng nó để triệt đối thủ, củng cố quyền thế của mình. Vì chống tham nhũng là chống đảng CS. Đảng CS độc tài, đảng trị toàn diện, là cha sanh mẹ đẻ của tham nhũng.

Trong khi đó, Nhựt từ đệ tam siêu cường kinh tế đang trổi dậy và đang cùng Mỹ lèo lái liên minh phòng chống TC. Nhựt trở thành nước đầu tư hạng nhứt vào VN, TC sụt xuống hạng 9. Nhựt ký với Nam dương một thỏa thuận hợp tác quốc phòng nhằm củng cố chặt chẽ hơn các quan hệ về quốc phòng và an ninh với khu vực Đông Nam Á, làm đối trọng với thế lực ngày càng tăng của Trung Quốc.

Gần ba nhiệm kỳ Thủ Tướng Nhật Shinzo Abe đã củng cố ngày càng vững chính sách Đông Nam Á an ninh, quốc phòng, knh tế chánh trị của Tokyo với các nước Đông Nam Á. Trong khi TC càng ngày càng gặp khó khăn vì đà bánh trướng đầy tham vọng đất đai của TC. TC là chế độ cô đơn nhứt ở Á châu Thái bình dương.

Suy tàn của Đảng Nhà Nước TC đã gần kề, là một qui trình khó đảo ngược./.(Vi Anh)




30-4-1975, Một Cơ Hội Bỏ Lỡ —
30-4-2015, Thời Cơ Đang Tới !

 
Ky Nguyên Nguyn Văn Tâm 

2015 MAR 21                                                            codokemgai30030 – 4 – 2015 đúng 40 năm ngày cộng sản miền Bắc cưỡng chiếm miền Nam, vi phạm trắng trợn Hiệp Định Paris 1973 mà chính họ và tập đoàn tay sai Giải Phóng Miền Nam đã ký tên trước sự chứng giám nghiêm chỉnh của quốc tế. Trái lại, họ huênh hoang cho đó là chiến thắng “giải phóng miền Nam”.

Biến cố 30-4-1975 là một cơ hội để đoàn kết dân tộc và thống nhất đất nước thực sự, là cơ hội cho những người cộng sản VN phải học được tinh thần hòa hợp, hòa giải, đoàn kết dân tộc của tướng Grant và quân đội miền Bắc Hoa KỳNhững người thắng trận đối xử rất tình người với tướng Lee và quân đội miền Nam gồm những người thua trận trong chiến tranh nội chiến Nam-Bắc Hoa Kỳ chấm dứt tháng 4/1865Ngay sau đó, đất nước Hoa Kỳ không còn hận thù giữa người thắng trận và người thua trận. Tất cả đều được xem là những công dân Hoa Kỳ chung tay xây dựng nước Mỹ trở thành một quốc gia hùng mạnh, giàu có và văn minh nhất thế giới như hiện nay.

Người cộng sản miền Bắc đã không chụp ngay cơ hội này mà họ lại lợi dụng chiến thắng với sự ngạo mạn và bản chất “hận thù giai cấp”, “vô sản chuyên chính” để trả thù những người miền Nam thua trận một cách thật tàn bạo. Vừa chiếm được miền Nam, họ không nương tay đàn áp, trù dập những người thuộc chính quyền và quân đội VNCH trong những trại tù cải tạo. Họ (VC) ngang nhiên công khai cướp đoạt tài sản, đất đai trắng trợn của người dân miền Nam hết sức vô nhân đạo qua những chính sách ăn cướp tàn bạo như cải tạo công thương nghiệp, đánh tư sản mại bản, đày đi kinh tế mới, cắt hộ khẩu, phân phối nhu yếu phẩm, chống văn hoá Mỹ Ngụy, đổi tiền v.v..

Gọi là “giải phóng miền Nam” nhưng chúng ta chỉ thấy người dân miền Bắc lũ lượt “di dân” xuôi Nam để tìm cuộc sống kinh tế khá hơn chớ không hề thấy có người miền Nam tiến về miền Bắc. Chính nhiều người dân miền Bắc và ngay cả một số cán bộ CS cũng tự thú nhận ngay khi chiếm được Saigon là “Miền Nam đã giải phóng miền Bắc chúng tôi”.

Gọi là “giải phóng miền Nam” sao lại có cái cảnh người miền Nam và ngay cả rất nhiều người dân miền Bắc đã lũ lượt vượt biên thoát khỏi “thiên đàng cộng sản”?  Nhà báo Huy Đức, tác giả sách “Bên Thắng Cuộc”, còn châm biếm “miền Bắc giải phóng miền Nam hay ngược lại ?”. Nhà văn Dương Thu Hương sau suốt cuộc “trường chinh” vượt đường mòn Hồ Chí Minh, khi vừa đặt chân lên thành phố Saigon, đã phải bật khóc oà lên mà than rằng: “Một chế độ man rợ đã chiến thắng một chế độ văn minh !

Sau 40 năm đất nước gọi là thống nhất và hòa bình nhưng những vết thương rỉ máu vẫn còn đó, hận thù chia cách giữa hai miền vẫn còn âm ỉ. Những kẻ gọi là “kẻ chiến thắng” vẫn tiếp tục huênh hoang tự cao tự đại là “đỉnh cao trí tuệ” vẫn tiếp tục đàn áp, kỳ thị không chỉ những người gọi là “người thua trận” mà còn với mọi tầng lớp nhân dân.

Đảng CSVN lải nhải kêu gọi người Việt quốc gia trong nước cũng như ở hải ngoại là phải quên đi cuộc chiến để cùng nhau hòa hợp, hòa giải dân tộc, xây dựng đất nước nhưng thực tế, họ vẫn âm thầm tiếp tục đàn áp và kỳ thị người dân miền Nam, nhất là những thành phần trong chính phủ và quân đội VNCH. Thậm chí ngay đối với những anh em thương phế binh VNCH, họ cũng chẳng tha, họ còn trả thù tàn bạo hơn. CSVN đã đày đoạ những anh em thương phế binh VNCH đi đến một kiếp sống nghèo nàn, thiếu thốn, lang thang và tuyệt vọng của những kẻ không nhà như một thứ trả thù cho bỏ ghét. Thật là tàn nhẫn và vô nhân đạo !!!!

Một chính sách kỳ thị manh cao' tinh vi hơn đối với thanh niên miền Nam là chính sách “lý lịch ngụy quân, ngụy quyền” áp đặt lên con em của những quân, cán, chính VNCHNhững con em chế độ cũ bị đặt ra ngoài lề xã hội, không được học lên đại hoc, không được tuyển dụng vào các cơ quan chính quyền hay quốc doanh, phải sống bấp bênh và thiệt thòi mọi mặt.

Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, một tổ chức do chính họ (CSVN) dụ dỗ trí thức miền Nam khai sanh ra làm công cụ cho họ trong chiến tranh, đã bị họ khai tử một cách tức tưởi ngay khi chiếm được miền Nam. Những trí thức như Nguyễn Hữu Thọ, Huỳnh Tấn Phát, BS Dương Quỳnh Hoa bị cho ra rìa và trở thành bù nhìn, bị trù dập và đưa ra bên lề cuộc sống không thua gì những người thua trận mặc dù trong thời kỳ chiến tranh, những trí thức ấy đã rất trung thành và tận tuỵ với đảng CSVN. Họ (CSVN) đã đối xử với những đồng chí trong Mặt trận GPMN của họ như thế, chưa bị thủ tiêu là may lắm rồi thì làm sao có chuyện hòa hợp, hòa giải, đoàn kết với người quốc gia chúng ta được khi chúng gọi là “ngụy” là “tay sai đế quốc Mỹ”?

Họ (CSVN) chỉ có thể hòa hợp hòa giải với những “Việt kiều yêu nước” tức là bọn tay sai của họ ở ngoại quốc hoặc với những đảng phái hay những “chính khách cơ hội” háo danh, ham lợi mà thôi.
Đi ngược lại lịch sử của đảng cộng sản Việt Nam, chúng ta sẽ thấy biết bao nhiêu cuộc thanh trừng nội bộ đối với những đồng chí trụ cột của họ như tướng Nguyễn Chí Thanh, tướng Nguyễn Sơn, tướng Trần Độ, Trường Chinh, Nguyễn Hộ, Nguyễn Văn Trấn, Lê Trọng Nghĩa và ngay cả Võ Văn Kiệt, Võ Nguyên Giáp v.v… Những trí thức như luật sư Nguyễn Mạnh Tường, giáo sư Trần Đức Thảo và nhóm Nhân Văn Giai Phẩm cũng chẳng được tha.

Thanh toán nội bộ, tranh giành chức tước, danh vọng và quyền lợi là những ngón nghề của CSVN. Tình trạng thanh trừng và thanh toán nhau trong Bộ Chính Trị của đảng CSVN trong những năm gần đây hiện rõ bộ mặt của Cộng Sản qua những vụ Nguyễn Bá Thanh, Trần Văn Truyền v.v… Những hình ảnh thanh trừng bạo lực, tàn ác đang diễn ra tại Việt Nam cho thấy không thể có “hoà hợp, hòa giải và đoàn kết dân tộc” đối với đảng CSVN.
Một cơ hội đã bỏ qua chỉ vì những hận thù ngạo mạn sẽ không bao giờ có lại được dù phải chờ nhiều năm như chính cựu ngoại trưởng cộng sản Nguyễn Mạnh Cầm tâm sự: “ Một lần lỡ thời cơ phải mất cả trăm năm …” chỉ vì những người cộng sản ngông cuồng háo chiến, háo thắng và đầy hận thù khi họ chủ trương bằng mọi giá phải chiếm cho được miền Nam.

Nguyễn Trường Tộ đã từng nói: “Một lần lỡ thời cơ, hận muôn đời. Khi quay đầu nhìn lại thì cơ đồ mất cả trăm năm

Cơ hội bị bỏ lỡ 40 năm !
40 năm qua, đảng CSVN đã đưa dân tộc và đất nước Việt Nam đi vào con đường cùng của XHCN. “Thiên đường cộng sản” đã trở thành hoang tưởng. 40 năm qua những “đỉnh cao trí tuệ” đã xây dựng nước Việt Nam, nhất là miền Nam, đi từ một miền đất của tự do, dân chủ, văn minh, tiến bộ và nhân quyền đến chỗ là một trong những đất nước nghèo nhứt trên thế giới. Sài Gòn một thời được gọi là “ Hòn Ngọc Viễn Đông” mà lúc đó được sánh ngang hàng với những nước Đông Nam Á và Đại Hàn thì nay là một thành phố luôn bị ngập úng, vô luật pháp, không có trật tự lưu thông, đầy trộm cướp và đĩ điếm v.v… Cựu thủ tướng Singapore Lý Quang Diệu đã từng mơ ước nước Singapore khi mới thành lập của ông sau này được ngang bằng với miền Nam Việt Nam, “ hy vọng là một lúc nào đó Singapore sẽ phát triển giống như Saigon”. Thế nhưng sau 40 năm, cả đất nước Việt Nam trù phú tài nguyên không thể so sánh được với Singapore không tài nguyên thiên nhiên. Thu nhập bình quân của một người dân Việt Nam chỉ bằng 3,5% của người dân Singapore. So với Đại Hàn thì một trời một vực và so ngay với nước làng giềng Campuchia thì Việt Nam cũng còn thua xa. Ông Lý Quang Diệu đã nói: “Họ là những người bị kìm hãm trong tư duy XHCN” và “Vì những lãnh đạo này mà Việt Nam tiếp tục trở nên trì trệ. Việt Nam chỉ có thể khá hơn một khi những con người này và cả guồng máy ‘kìm hãm’ này ra đi”.
40 năm qua, xã hội Việt Nam chìm đắm trong sự  nghèo đói, lạc hậu dưới sự đàn áp, bóc lột của sự cai trị độc tài, tàn ác của tập đoàn CSVN mù quáng vì “chủ nghĩa xã hội”, “chủ nghĩa hoang tưởng cộng sản” nặng tinh thần đấu tranh giai cấp cực đoan. Người dân ngày nay không còn tin và coi đảng CSVN là “đảng tiên phong của giai cấp công nhân và nông dân” lãnh đạo ba dòng thác cách mạng” như họ đã từng huênh hoang, phỉnh gạt mà chỉ là một “đảng cướp”, là “đảng côn đồ”, là “con quỷ đỏ”. Chính những người công nhân và nông dân mới bị Cộng sản bóc lột tàn tệ.

Thực tế xã hội ngày nay cho thấy họ đã trắng trợn đàn áp và cướp bóc tài sản của nhân dân tạo thành một giai cấp “tư bản đỏ” dã man hơn giai cấp mà họ gọi là “tư bản rẫy chết”. Họ ngang nhiên cướp đất đai của nhân dân bằng luật “thu hồi đất” với lý thuyết “đất đai là tài sản toàn dân” để làm của riêng và tạo một cuộc sống xa hoa như những “ông hoàng”, “bà chúa” thời phong kiến. Họ dựng nên một xã hội vô cùng bất công với sự giàu nghèo quá cách biệt. Họ tạo ra một giai cấp thiểu số dốt nát, giàu có, dư ăn dư mặc, ăn trên ngồi trước, đè đầu đè cổ người dân nghèo khổ.

 Chỉ có dưới chế độ cộng sản mới có tình trạng người dân phải “bán trôn nuôi miệng” hoặc bán thân làm vợ hờ cho những người Đài Loan và Hàn Quốc để lấy tiền nuôi sống cha mẹ và anh chị em! Chỉ có dưới chế độ cộng sản mới có tình trạng hang loat gái trần truồng cho đàn ông Đài Loan, Đại Hản… công khai chọn lựa như chọn tôm cá! Chỉ có dưới chế độ cộng sản mới có tình trạng bán gái qua Campuchia và Trung quốc làm gái mãi dâm hoặc “xuất khẩu lao động” để đi làm đầy tớ cho các nước kể cả những nước lạc hậu ở châu Phi! Thật vô cùng nhục nhã cho một dân tộc có “4000 năm Văn Hiến” !!!

Đạo đức xã hội thì quá suy đồi, văn hóa thì quá lạc hậu. Giáo dục chỉ chú trọng vào việc dạy con trẻ thành những công cụ phục vụ chế độ cộng sản. Trong trường học cũng như ngoài đường phố chỉ thấy đầy rẫy bạo lực, mạng sống của người dân bị đe dọa. Họ dùng công an và côn đồ để đàn áp nhân dân làm cho con người trở nên sợ sệt và vô cảm trước mọi bất công.

Nhân dân bị đàn áp, bóc lột, bị bắt bớ tù đày vô cớ, niềm tin tôn giáo bị kỳ thị và bị đàn áp quá mức đến nỗi người dân không thể ngồi im chịu đựng ! Những cuộc biểu tình của dân oan hoặc đình công của công nhân đều bị đàn áp và dập tắt lập tức vì họ không muốn ảnh hưởng đến sự sống còn của đảng CSVN . Đảng CSVN dùng công an và côn đồ như những lực lượng bảo vệ chế độ chuyên chính và toàn trị của họ. “Tức nước phải vỡ bờ”!

Trước một thế giới mở ngõ với những tiến bộ về kỹ thuật thông tin mạng (internet), đảng CSVN không còn có thể che giấu hay lừa dối nhân dân được nữa. Những sự thật đê hèn, “hèn với giặc, ác với dân” của đảng CSVN đã bị lột trần và được đưa ra trước ánh sáng của nhân loại văn minh. Người dân từ nông dân, công nhân, thanh niên cho đến trí thức đã thức tỉnh và nhận thấy rõ bộ mặt thật của đảng CSVN. Họ không còn im lặng được nữa, với lòng yêu nước và chống bất công xã hội, yêu chuộng tự do, dân chủ, công lý và nhân quyền, những tầng lớp này lần lượt lên tiếng phản biện. Dĩ nhiên những phản biện này không tránh khỏi sự đàn áp nhưng họ vẫn tiếp tục tranh đấu bằng phương tiện internet với những bài viết của các bloggers hoặc bằng các thư phản biện tập thể hoặc bằng các cuộc mít-ting bất chấp những đe dọa như các trường hợp của luật sư Lê Thị Công Nhân, Phạm Thanh Nghiên, Nguyễn xuân Nghĩa, Lê Công Định, Huỳnh Thục Vi,  Nguyễn Hoàng Vi, Nguyễn Phương Uyên v.v… 

Dân oan bị cướp đất tập hợp ngày càng đông thành phong trào đòi ruộng đất lan rộng khắp nơi từ Nam ra Bắc. Dân oan ngày nay không còn sợ sệt vì những đe doạ của bạo quyền quyền cộng sản. Hết cuộc biểu tình này đến cuộc biểu tình khác, từ địa phương này sang qua địa phương khác, luân phiên gắn bó với những nhà đấu tranh dân chủ và tù nhân lương tâm để gây khó khăn và thách thức bạo quyền CSVN. Những cuộc chống đối này đang tạo thành một phong trào rộng lớn gây ảnh hưởng trong nước cũng như ở hải ngoại và đánh động lương tâm của các nước văn minh trên thế giới.

Trong khi đó, những áp lực ngoại giao cũng đang đè nặng lên chính quyền và đảng cộng sản VN như và vấn đề nhân quyền, TTP và Biển Đông v.v…  Về đối nội, đảng CSVN hiện rõ là một “đảng cướp” đang tranh nhau cướp đoạt tài sản của dân và tranh giành danh vọng, quyền hành với nhau một cách ác liệt qua tài liệu từ blog “Chân Dung Quyền Lực” đã được phổ quát rộng rãi trong nước cũng như ở hải ngoại trước đại hội đảng năm 2016.

 Một hình ảnh tranh giành quyền lợi và quyền hành trong Trung ương đảng và Bộ Chính Trị đảng CSVN đang ló dạng trở lại như trong thời kỳ chiến tranh. Họ trừ khử nhau, chụp mũ nhau gọi là phản đảng hay chủ nghĩa xét lại. Ngoài mặt là những đồng chí nhưng trong lòng là những đối thủ không tương nhượng nhau đang xuất hiện hoặc công khai hoặc ngấm ngầm từ Trung Ương đảng đến các đảng bộ địa phương. Những tranh chấp này có những lúc thật mãnh liệt và căng thẳng có thể đưa đến sự sụp đổ của đảng CSVN. Ngày nay, đảng CSVN đang trong thế bị động về đối nội cũng như đối ngoại và những tranh chấp trong nội bộ hàng ngũ cán bộ của họ đưa tới một tình trạng bè phái hỗn loạn, kỷ cương lỏng lẻo, mạnh ai có quyền và thế lực thì bao che nhau tham nhũng và ăn cướp của dân.

Xã hội Việt Nam ngày nay đang trong cơn hỗn loạn đúng là “Thượng bất chánh, hạ tất loạn”. Chính những hỗn loạn xã hội tạo ra một thứ đất nước “vô chính phủ” cộng với những áp lực từ bên ngoài và những tác động từ những tranh chấp thanh trừng nội bộ đảng một cách ác liệt cùng với những vận động hải ngoại và phản biện của những nhà đấu tranh dân chủ, của dân oan và những bloggers v.v…  như một thế liên hoàn vô hình ngẫu nhiên nhịp nhàng là một thời cơ thuận lợi đưa đến sự tan rã và sự sụp đổ của bạo quyền cộng sản VN giống như những sự sụp đổ của các bạo quyền cộng sản ở Liên Sô và các nước Đông Âu trước đây.

Thời cơ đảng CSVN tan rã và bạo quyền CSVN đang ló dạng !
Thời cơ tự do, dân chủ và nhân quyền đang tới với dân tộc Việt Nam !
Hy vọng thời cơ này không còn xa vời nữa và thời cơ này không bị bỏ lỡ !
Kỷ Nguyên Nguyễn Văn Tâm
Chicago những ngày Tháng Tư Đen /2015


__._,_.___

Posted by: =?UTF-8?B?TkdVWeG7hE4gVsOCTiBUw5lORw

My Blog List