Hình ảnh nói lên: Sự kiện Tội Ác Việt Cộng ! ! !






https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEj6kLmYKa-hPj1HvFQ9_a90KHJhUV_iUMIMpX4OuUtcp6iY8tidLohE38X7ObP2c42O5V9-qDdwu0FmyTgJjcSZI_uM_-UibAiDC_1ucag_fkHs2pV3BymecImeC0W5_uks9TF3NPCej5k/s1600/babui-danlambao-%C4%90a%CC%82%CC%81t+nu%CC%9Bo%CC%9B%CC%81c+la%CC%80+ca%CC%81i+%C4%91uo%CC%82i+sam1.jpg








Monday, January 6, 2014

Cái chết đang lặng lẽ đến nhưng nhiều người Việt vẫn không hay biết


LM An Tôn Lê Ngọc Thanh giới thiệu Infographics của Nguyễn Hoàng Thanh Tâm


Mời xem: http://www.youtube.com/watch?v=DBSzqyOKx7w



Cái chết đang lặng lẽ đến nhưng nhiều người Việt vẫn không hay biết 
 BBT-WebVT

Sau tai nạn tại nhà máy phát điện ở Fukushima, các tổ chức môi sinh tại Nhật, Indonesia, Thái Lan, và Philippines đang rất lo lắng về dự án xây dựng 2 nhà máy điện hạt nhân tại Ninh Thuận. Vì nếu tai nạn nguyên tử xảy ra tại đây, toàn vùng Đông Nam Á sẽ cùng lãnh hậu quả khủng khiếp, đặc biệt nếu sông Mekong (Cửu Long) bị ô nhiễm phóng xạ.
Trong khi đó chính người dân Việt tại Ninh Thuận lại không biết gì về mối hiểm nguy đang âm thầm ập đến. Tệ hơn nữa, nhà cầm quyền Việt Nam còn cho đưa ra những giải thích đầy tính coi thường dân trí và hoàn toàn sai lạc. Tiêu biểu như lời giải thích "nguyên tử" mới nguy hiểm còn "hạt nhân" thì an toàn, hoặc cứ an tâm vì đây là hàng Nhật, v.v...
Sau đây là cuốn phim mô tả tình trạng vô tư đầy nguy hiểm hiện nay do 4 tổ chức phi chính phủ quốc tế sau đây thực hiện:
- Tổ chức Bảo vệ Môi sinh Quốc tế: FOE Japan
- Diễn Đàn Nhật về Phi Nguyên Tử Á Châu: No Nukes Asia Forum Japan
- Quan sát Sông Mêkông: Mekong Watch
- và Fukushima Rohkyu Genpatsu Wo Kagaerukai

Kính mời quí độc giả theo dõi và tiếp tay phổ biến về mối hiểm họa đang âm thầm ập lên đồng bào chúng ta.
BBT-WebVT

** Lưu ý của hãng phim: Phụ đề cho mọi ấn bản quốc tế đều được dịch từ bản chữ (transcript) gốc tiếng Nhật nên chỉ thể hiện đúng ý của người nói chứ không ghi lại từng câu phát biểu.

http://www.youtube.com/watch?v=jUsuWCXGuKM

DienDanCTM


Phụ nữ Nhân quyền Việt Nam kêu gọi sự trợ giúp khẩn cấp
Huỳnh Thục Vy - Sài Gòn 5/1/2014
Thưa quý thân hữu,
Phụ nữ Nhân quyền Việt Nam vừa qua đã gởi thành viên trực tiếp đến thăm hỏi gia đình hai dân oan bị vi phạm nhân quyền nghiêm trọng ở thành phố Cần Thơ là chị Nguyễn Thị Ánh Nguyệt và Nguyễn Thị Tuyền.
Hai người phụ nữ này sinh hoạt dân oan cùng nhau, ở cùng trong một vụ án và cả hai đều chưa được công luận quan tâm thích đáng nên chúng tôi đặc biệt dành đến hai báo cáo riêng lẻ để tường trình về trường hợp này.
Báo cáo đầu tiên do chị Nguyễn Ngọc Hoa tường trình đã được đăng và hôm nay chúng tôi tiếp tục phổ biến bài viết kêu gọi sự giúp đỡ này. http://vnwhr.net/2013/12/26/tu-dan-oan-tro-thanh-tu-nhan/
Hai chị đã đồng hành với Dân oan cả nước trong nhiều sự kiện đòi đất, có được sự tin tưởng của nhiều bà con dân oan cũng như có thái độ kiên quyết với chính quyền không những trong việc đòi đất mà còn trong việc đấu tranh để bảo vệ Nhân quyền của chị em phụ nữ dân oan.
Ngày 10 tháng 9 năm 2013, cả hai chị bị bắt bất ngờ. Và cho đến nay đã ba tháng trôi qua, dù không có bằng chứng, Viện kiểm sát Cần Thơ đã đưa ra lời buộc tội dành cho chị Nguyễn Thị Ánh Nguyệt là vi phạm điều 254 “Gây rối trật tự công cộng”. Nhưng mặt khác, lợi dụng sự mù chữ và thiếu thông tin của vợ chồng chị Nguyễn Thị Tuyền, cơ quan điều tra cứ tiếp tục gia hạn lệnh tạm giam mà chưa đưa ra được bằng chứng cũng như cáo buộc cụ thể nào dành cho chị Tuyền.
Sức khỏe hai chị hiện rất kém vì cảnh tù đày thiếu thốn và nguy hiểm. Những đứa con nhỏ tuổi của hai chị có nguy cơ sẽ phải nghỉ học vì các bà mẹ của chúng là trụ cột kinh tế gia đình nay đã bị bắt. Chị Nguyệt từng là giáo viên, còn chị Tuyền bán xôi nuôi bốn đứa con qua ngày.
Hiện tại gia cảnh cả hai chị đều vô cùng khó khăn, không kém gia đình ông Ngô Hào ở Phú Yên như chúng tôi đã tường thuật. Hai người chồng không có đủ kinh phí để trả tiền luật sư cho vợ mình.
Phụ nữ Nhân quyền Việt Nam, với chức năng là tổ chức lên tiếng bênh vực cho mọi phụ nữ Việt Nam bị vi phạm Nhân quyền đã có sự trợ giúp kịp thời cho gia đình hai chị. Nhưng với ngân quỹ eo hẹp của mình, sự trợ giúp đó tất nhiên còn quá ít ỏi.
Vậy xin tha thiết kêu gọi quý thân hữu quan tâm vận động và chia sẻ với hai gia đình chị Nguyệt và chị Tuyền để họ có thể thuê luật sư và thăm nuôi hai chị trong những ngày hai gia đình đang chịu những áp lực tinh thần ghê gớm này.
Mọi liên lạc xin gởi về:
1/ Chồng chị Nguyệt: anh Phạm Văn Cờ – Điện thoại: 012345 08563
Địa chỉ: 231/8 Khu vực Thới An 1, phường Thuận An, quận Thốt Nốt, tp Cần Thơ
2/ Chồng chị Tuyền: anh Trương Văn Thạnh – Điện thoại: 01202 871342
Địa chỉ: Ấp 5, xã Thạnh Phú, huyện Cờ Đỏ, tp Cần Thơ
©PNNQVN|VNWHR


CUỘC SO TÀI HI HỮU
Tàu Nga mắc nạn, "anh hùng" Trung Quốc vội ra tay nghĩa hiệp nhưng lại bị kẹt theo tàu Nga, cao bồi Mỹ nhảy vào cứu cả hai.

****

Tàu phá băng Mỹ lên đường tới Nam Cực giải cứu 2 tàu Nga và Trung Quốc

Tàu phá băng Polar Star của lực lượng tuần duyên Mỹ. Ảnh chụp tại Nam cực ngày 4/4/1999.
REUTERS/ Tuần duyên Mỹ
Trọng Thành RFI
Sau khi sơ tán 52 du khách và nhà khoa học trên con tàu Nga bị kẹt trong băng Nam Cực, đến lượt tàu phá băng Trung Quốc bị thời tiết khắc nghiệt tại Nam Cực cản đường về từ ngày 02/01. Hôm nay, 05/01/2014, theo AFP, một chiếc tàu phá băng Hoa Kỳ khởi hành từ Úc đến Nam Cực để tìm cách giải cứu hai tàu Nga và Trung Quốc.
Tàu phá băng Polar Star của tuần duyên Mỹ rời Hoa Kỳ từ đầu tháng 12/2013 để làm công việc mở đường cho các chuyến hải hành tiếp viện cho căn cứ khoa học MacMurdo (Nam Cực) vào mùa đông. Theo yêu cầu của Úc, tàu Polar Star sẽ tới vịnh Commonwealth Bay để giải phóng cho chiếc tàu thám hiểm Nga Akademik Shokalskyi và tàu phá băng Trung Quốc Tuyết Long (Xue Long).
Tàu Polar Star, dài 122 mét, có thể xẻ được lớp băng dày 1,8 thước với tốc độ 5km/giờ. Con tàu đặc chủng này cũng có thể phá được cả lớp băng dày đến 6 mét. Hiện tại tàu phá băng Trung Quốc, bị nhiều tảng băng - có nơi dày đến 4 mét - bao bọc, nằm cách vùng nước không có băng khoảng 20 cây số. Thông tin trên đây do các phóng viên Tân hoa xã có mặt trên tàu cho biết.

Ngày 02/01, tàu phá băng Trung Quốc đưa trực thăng chờ toàn bộ hành khách, bao gồm các nhà khoa học, du khách, phóng viên người Úc, Anh và New Zearland, trên tàu thám hiểm Nga Akademik Shokalskyi lên một tàu Úc. Tàu phá băng Polar Star của tuần duyên Mỹ sẽ phải mất một tuần mới đến được vịnh Commonwealth Bay, nơi hai con tàu nói trên bị kẹt.
Theo một giới chức Trung Quốc phụ trách về các chương trình thám hiểm của nước này tại Nam Cực, dự báo khí tượng và tình trạng băng tại chỗ cho thấy tình hình có thể được cải thiện từ ngày mai thứ Hai 06/01 trở đi, với việc xuất hiện các đợt gió mạnh đẩy được các tảng băng ra xa.

Vấn nạn mượn tay côn đồ
Nguyễn Văn Thạnh


Ai là công an chìm, ai là côn đồ trong đám này?

1.Vấn nạn mượn tay côn đồ:

Công dân có quyền biểu tình, điều này đã được ghi vào hiến pháp hẳn hoi. Tuy nhiên, gần 70 năm qua, Quốc Hội VN đã ỉm đi cái quyền này, bằng cách không thông qua luật (rất nham hiểm). Treo luật với mục đích là trói người dân để không thể thực hiện quyền biểu tình, nhưng họ đã nhầm. Khi đất nước cần, người dân sẽ làm. Những ngày hè sôi động 2011 đã chứng minh chân lý đó và người dân phát hiện ra một nguyên lý của nền dân chủ: những gì pháp luật không cấm, công dân có quyền làm. Nhà cầm quyền (dù nham hiểm) đã trở nên lúng túng sau một hồi dùng bạo lực hoang dã-đánh, đạp mặt, bắt nhốt,....Với bản chất nham hiểm, hẳn họ không chịu thua, họ hóa giải như thế nào?

Một người bạn tôi kể lại, đoàn người đang đi trật tự thì bỗng một người cao to, ở đâu lẻn vô
một tay kẹp cổ em, một tay vung cú đấm liên tiếp vào mặt. Mọi người lao đến cứu em, thế là là tạo ra một vụ “đánh nhau, gây mất trật tự” và công an lao vào bắt tất cả lên xe. Về đồn thì thấy toàn người đi biểu tình, còn kẻ lạ đánh thì không thấy đâu.

Rõ ràng, đây là một thủ đoạn mượn tay côn đồ rất nham hiểm.
Thủ đoạn này không mới, và nó cũng không xảy ra ở chuyện biểu tình, chúng ta thường nghe tin những người lên tiếng bị đánh bị chém như: anh Chí Đức, Binh Nhì, rồi đội bóng Hoàng Sa FC, mới đây nhất là nhà văn Huỳnh Ngọc Tuấn, anh Lê Quốc Quyết,….nếu kể đầy đủ có thể đến sáng.
Bản thân tôi cũng trải qua những giây phút rùng rợn, kinh khủng của thủ đoạn trên.

Gần đây trên mạng lan truyền tài liệu hướng dẫn cách thức để công an có thể đánh người dân mà không để lại thương thích hay dấu vết (tài liệu của CA TQ nhưng có thể tham khảo cho VN vì hai nước có chế độ chính trị, hoàn cảnh xã hội tương đồng nhau, lãnh đạo hai nước có mối quan hệ khăn khít).
Dù chưa có cuộc điều tra nghiêm túc, phán quyết của tòa án về vấn nạn này, nhưng theo lý trí suy luận logic, theo tôi, vấn nạn công an mượn tay côn đồ để đánh đập, trấn áp người dân là có thật.
Đây là một thủ đoạn rất nham hiểm và là một vấn nạn của xã hội. Nó nham hiểm bởi lẽ người dùng nó biết rằng an toàn, vì được bao che nên không ai có thể điều tra được. Là vấn nạn xã hội bỡi lẽ nó dung dưỡng bạo lực, làm nhờn quốc pháp, nó sẽ lây lan ra ngoài xã hội. Khi đó người dân có việc là dùng côn đồ để xử nhau (1), (2).

2. Vấn đề:

Vấn nạn mượn tay côn đồ xảy ra là vì nhà nước này hiện nay thiếu lý lẽ và công lý (thiếu chính danh) để nói chuyện với dân. Họ không thể dùng bạo lực hợp pháp của nhà nước để làm việc nước, do vậy họ phải dùng đến thủ đoạn bẩn thỉu. Họ có thể sử dụng được nó vì họ nắm hết sức mạnh chính trị trong tay; không chỉ sức mạnh chính trị (lập pháp, hành pháp, tư pháp) mà còn cả sức mạnh truyền thông và kinh tế. Người bị đánh, thân cô, thế cô thì làm được gì? Cho đến nay chưa một ai bị đánh mà cơ quan công quyền vào cuộc điều tra để bảo vệ an toàn tính mạng cho nạn nhân. Chính vì lẽ đó nên thủ đoạn trên phát huy được hiệu quả, ngày càng được xử dụng rộng rãi.

3. Giải pháp:

Là một kỹ sư, đứng trước một vấn đề, tôi quan tâm, suy nghĩ đến giải pháp, chứ không chỉ dừng lại chuyện lên án & tố cáo. (Đấu tranh không chỉ dừng ở việc tố cáo mà phải khám phá ra bản chất vấn đề và giải quyết nó- Aung San Suu Kyi). Theo tôi có những giải pháp sau:

A. Nhóm giải pháp về luật pháp:

a1. Tố cáo vụ việc ra công luận, càng cụ thể với chứng cứ càng rõ ràng càng tốt, nên trung thực không nên nói thêm nói bớt vụ việc. Khi sự việc xảy ra, phải nhanh chóng có bài tường trình rõ ràng, nếu có phân tích khách quan kèm theo càng tốt.

a2. Chính quyền nham hiểm dùng thủ đoạn thì phải tương kế, tựu kế. Chính quyền dùng côn đồ để tạo ra chứng cớ bắt người (gây rối trật tự), đánh dằn mặt, rồi phủi trách nhiệm. Chúng ta cần phải nắm ngay sự việc này, làm đơn trình báo ngay với cơ quan công quyền có chức năng. Nhiệm vụ bảo đảm an ninh cho công dân là thuộc công quyền. Sau khi gửi đơn phải thông báo rộng rãi cho công luận và tìm cách truy kích làm to vụ việc. Thường bọn nham hiểm sẽ ỉm đơn (chính vì điều này mà khi nhận đơn trình báo, không bao giờ chúng đưa biên lai).

Tôi thấy rất tiếc là người viết bài tố cáo hành vi dùng côn đồ đánh người nhưng rất ít người viết đơn và tranh đấu đến cùng trong khuôn khổ luật pháp. Chúng ta không làm việc này, làm cho bọn nham hiểm rảnh trách nhiệm trong việc thụ đơn và làm cho công luận nghi ngờ những người tranh đấu cho dân chủ là hàng lu loa, chuyên đi gây sự để làm sự kiện, kiếm tiền hải ngoại.
Đánh mạnh vào điểm này, như chiêu thức “nắm thắt lưng địch mà đánh”, vụ việc càng nhiều người bị đánh, chứng cứ càng rõ ràng, chúng không thể biện bác. Làm được việc này, ít nhất cho công luận thấy thủ đoạn nham hiểm, nâng cao dân quyền và truy kích để bãi chức người đứng đầu. (Nên nắm người đứng đầu để quy trách nhiệm bảo an).

 a3. Tranh đấu qua quốc hội: yêu cầu quốc hội ban luật rõ ràng, chỉ có nhân viên mặc đồng phục, sắc phục mới được thực thi việc công. Mặc thường phục không được xem như là nhân viên công vụ, dù có rút thẻ ngành. Phạt nghiêm những hành vi giả dạng. Quy trách nhiệm cho người đứng đầu địa phương để xảy ra côn đồ mà không truy bắt được hung thủ. Tôi cho rằng, đây là một điều luật rất quan trọng.

 a4. Đấu tranh qua hướng quốc tế: viết thư thông báo, tường trình vụ việc, vạch trần thủ đoạn này cho các cơ quan bảo vệ nhân quyền quốc tế. Yêu cầu họ nghiên cứu thủ đoạn này và tìm ra giải pháp cho vấn đề.

B. Nhóm giải pháp thực tiễn:

Những kẻ đánh người thường nghĩ rằng mình cứ thoải mái đánh, không việc gì phải sợ, mình được bảo kê. “Côn đồ thường” còn sợ nhà nước nghiêm trị, “côn đồ nhà nước” thì còn sợ ai. Nhà nước càng mất tính chính danh thì càng phải sử dụng côn đồ, sử dụng bạo lực và chúng biết được nhà nước nuông chiều nên ngày càng lộng hành. Đó là lý do vì sao côn đồ ngang nhiên đánh người, rồi nhiều người dân vô làm việc bị chết ở đồn công an với lý do hết sức vớ vẩn như: cho tay vô ổ điện, trượt té,….mà không một ai gây ra án bị điều tra, xét xử, trừng phạt.


                                           Công an và côn đồ đánh dân. (Ảnh trên mạng)

Khi quốc pháp bị lũng đoạn thì công luận phải lên tiếng. Để giải quyết vấn đề này, tôi đưa ra bản tuyên ngôn bảo vệ công công lý. Các bạn có thể xem đề xuất sáng kiến tại đây.

Nguyễn Văn Thạnh
Nguồn: http://huynhngocchenh.blogspot.de/2014/01/van-nan-muon-tay-con-o.html#more



Sunday, January 5, 2014

Khi “liệt sĩ trở về” muốn tự tử!


 

Khi “liệt sĩ trở về” muốn tự tử!

1
Ông Hào trong căn nhà rách nát cùng giấy tờ 30 năm tuổi Đảng của bố và bằng công nhận liệt sĩ của mình.
Ông Lê Xuân Hào, một cựu binh nhập ngũ tại thôn An Hòa (xã Trầm Lộng, huyện Ứng Hòa, nay thuộc thủ đô Hà Nội) từ 28 năm trước đi làm nhiệm vụ quốc tế bên nước bạn Campuchia. Năm 1992, đơn vị đã gửi giấy báo tử, bằng “Tổ quốc ghi công” để tri ân “liệt sĩ Lê Xuân Hào”. Nghĩa trang xã Trầm Lộng, chùa trong xã đều có tên “liệt sĩ” Hào, bàn thờ trong nhà cụ Lê Đức Mạnh (bố ông Hào) có “di ảnh” và bát nhang thờ người quá cố Lê Xuân Hào. Đùng một cái, sau hơn 27 năm được thờ cúng, Lê Xuân Hào đen đúa, rách rưới, ốm o, sầu tủi trở về, anh dắt theo 1 đứa con gái với cái tên “vọng cố hương” là Lê Thị Thùy Dương.

Bên Campuchia, xứ sở mà anh lưu lạc hơn 20 năm qua, còn 4 người con gọi bằng “bố Hào” nữa. Nếu chuyện chỉ dừng ở đoạn này, thì đã đau đớn, chua xót, ám ảnh nỗi đau chiến tranh và thời hậu chiến lắm rồi. Và cái mô típ “liệt sĩ” trở về cũng đã diễn ra nhiều, khá quen thuộc trên cả nước.

Tuy nhiên, người viết bài này và bà con Trầm Lộng lại đang day dứt, xôn xao bởi một chủ đề khác: Liệt sĩ trở về Lê Xuân Hào đã uất ức muốn mua xăng về tự tử vì “thủ tục làm người còn sống”, con gái ông cũng vì “vướng thủ tục” đó mà không thể đăng ký kết hôn, cháu đã chính thức… uống thuốc ngủ để chết. May mà Bệnh viện Bạch Mai rửa ruột cứu mạng kịp thời.

Tờ giấy in công văn gửi cho gia đình liệt sĩ giá bao nhiêu tiền?

Nghe những gì ông Hào và cháu Thùy Dương nói, chúng tôi thật sự sốc. Sau khi xác tín “tin dữ” từ gia đình, xóm mạc, cả trưởng thôn An Hòa, cả Phó Chủ tịch UBND xã, rồi cả Phó Giám đốc Sở LĐTBXH Hà Nội, Trung đoàn Thủ đô, tôi mới ngã ngửa: Hóa ra thủ tục làm người còn sống khó thật.

Thủ tục “hành là… chính” với quan niệm của không ít cán bộ thời này là gì? Có lẽ là “chuyện dễ mà không làm cho khó, thì làm gì có thịt… chó mà ăn”. Hành là chính với công dân bình thường đã là đau đớn, đằng này lại “hành” cả một cựu binh cống hiến cả tuổi trẻ, cả máu xương, sẵn sàng “vị quốc vong thân” như ông Hào thì quá khó hiểu!
2
Ông Hào và bữa cơm nấu ở góc sân. 

Sau khi trở về, gỡ tấm ảnh thờ của mình ra khỏi bàn thờ ẩm mốc trong ngôi nhà cũ rách nát, ông Hào lập cập leo xuống, nằm góc nhà cứ rúc lên từng hồi. Bà nội chết, mẹ chết, bố chết. Lúc anh đi lính, bà và bố vẫn khỏe lắm. Ngôi nhà xưa thuộc quyền sở hữu của ông anh trai sống tít mãi Sơn La, đã bỏ không, rêu mốc.

“Chỗ này, là nơi đặt hòm gỗ, phủ cờ đỏ sao vàng, cử hành lễ truy điệu mày đây, Hào ạ. Bằng tổ quốc ghi công, giấy báo tử của mày đây. Tao phải dẫn bố mày lên huyện dò hỏi mãi mới biết mày đã “hy sinh” đấy”. Chứ cứ để yên thì bây giờ mày vẫn vào loại mất tích trong im lặng” – cậu ruột Lê Xuân Hào rành rọt.

Than ôi, cái giấy tờ của Sở LĐTBXH Hà Tây (cũ), do ông Phó Giám đốc ký về chuyện Hào hy sinh, rồi gia đình hưởng chế độ “mai táng phí” gì đó, sao mà nó thê thảm thế. Giấy về một tử sĩ, gửi cho bố của liệt sĩ, mà gạch xóa nham nhở. Thậm chí “phôi” giấy cũ mèm, có từ thời Hà Tây còn thuộc về tỉnh cũ Hà Sơn Bình, người ta cứ bừa phứa gạch xoẹt chữ “Hà Sơn Bình”, viết đè đen thui lên đó một chữ “Hà Tây” (4 lần gạch xóa viết đè trong một văn bản vô cùng quan trọng), rồi chỗ nào cần xóa là xóa, cần đè là đè.

Một tờ giấy và công viết một công văn về liệt sĩ, gửi cho gia đình liệt sĩ nó đắt đỏ và khó khăn thế ư? Thế mà Phó Giám đốc sở cũng nỡ đặt bút ký và… đóng giấu vào đấy được ư? Mà có phải thời chiến tranh hay bao cấp đói nghèo gì, cái giấy về lễ tang với “mai táng phí” ấy mới được ký và gửi vào ngày 25.5.1993!

Trốn trong hang đá, ngủ ngoài bìa rừng, chui trong bồ đựng thóc

Chưa hết. Lê Xuân Hào nhập ngũ năm 1983, sau khi huấn luyện kỹ, được “phiên” vào tiểu đội 2, trung đội 4, đại đội 12, tiểu đoàn 4, đoàn 7704, mặt trận 497, Campuchia. Tháng 3 năm 1984, trong một lần đi hái rau phục vụ đơn vị thì bị lọt vào ổ phục kích, bị địch bắn trọng thương ở đùi, mảnh đạn pháo văng vào đầu bất tỉnh. Anh từ cõi chết tỉnh lại thì thấy mình nằm trên nhà sàn, trong nhà một gia đình ở miền núi Campuchia.

Họ dùng lá rừng, nước muối và cháo loãng chăm sóc anh hồi phục. Khi đang tập tễnh lên da non các vết thương, Hào đã đòi các ân nhân cứu mạng đưa mình về nơi đóng quân để tiếp tục chiến đấu. Nhưng đến nơi thì đơn vị đã chuyển đi từ lâu. Rừng núi điệp trùng, trọng thương chưa lành, lại không biết tiếng Campuchia, ở đó cũng không ai nói được tiếng Việt, lại không một xu dính túi, không một tấc sắt trong tay.

3
Ông Hào với chiếc xe cải tiến đi mua phế liệu và đàn gà công nghiệp sắp chết rét 

Gia đình ân nhân cũng cực kỳ nghèo khó. Giữa thời nước bạn còn tàn quân Pôn Pốt tung hoành dã man đó, anh bộ đội Việt Nam cũng không dễ gì an toàn khi xuất hiện ở chỗ đông người. Không còn cách nào khác, Hào tạm ở lại bản làng hẻo lánh. Thế rồi anh phải lòng cô con gái chủ nhà.
Cô này đã một đời chồng, có một đứa con riêng. Họ ở với nhau, có thêm 4 đứa con chung. Ông Hào kể, để sống sót, nuôi được bà vợ bệnh trọng (ung thư vú, đã chết) và đàn con nheo nhóc, ông thường đi đánh cá thuê lênh đênh trên Biển Hồ với nhiều lần dông gió lật thuyền, tưởng như mất xác trong gang tấc.

Anh cũng đi làm rẫy thuê, sống lẩn trốn tàn quân Pôn Pốt với hàng chục lần chết hụt. Suốt nhiều năm phải di chuyển nhà, cứ trời rim rỉm tối là phải trốn khỏi nhà đi ngủ ngoài rừng, vì binh lính lùng sục tìm giết. Có đêm phải trốn trong bồ thóc, nhiều ngày sống như khỉ vượn, ăn quả xanh, uống nước suối, ngủ hang đá khi bị truy đuổi, anh vẫn đau đáu một ngày được trở về quê hương, vì thế, các con anh, bên cạnh tên Campuchia, anh vẫn đặt cho nó một cái tên việt: Thi, Nga, rồi Lê Thị Thùy Dương.

Bị trọng thương, “lúc nhớ lúc quên”, lạc đơn vị từ năm 1984, mãi hơn 27 năm sau, tình cờ có người cùng quê Ứng Hòa sang Campuchia đốn gỗ trong rừng già, gặp ông Hào đang đi làm thuê ngoài rẫy. Đen đúa, rách rưới, ngơ ngẩn.

Người đồng hương rớt nước mắt giao nhiệm vụ cho Lâm, một đứa cháu của ông ta về quê báo tin cho gia đình ông Hào. Sau 2 lần thuê xe, dò hỏi, thuê người dẫn đường và “bảo vệ” để vào vùng hẻo lánh đó, một người em của Lê Xuân Hào đã đưa được anh hồi hương.

Hai bố con “liệt sĩ”: Người định tự thiêu, người đã tự tử đang dở câu chuyện “thủ tục làm người còn sống”

Về đến nhà, xã nghe tin “liệt sĩ” Lê Xuân Hào còn sống, họ cắt luôn tiền chế độ thờ cúng liệt sĩ của Lê Xuân Vui – em trai ông Hào. Không “được” là “liệt sĩ”, nhưng suốt mấy trăm ngày qua đi lo thủ tục, chạy vạy đủ đường, ông Hào và con gái, cùng gia đình vẫn phải phẫn uất, chán nản, thậm chí ông Hào định tự tử còn con gái ông thì tự tử rồi. Chỉ vì sự nhiêu khê. Ông Hào có đi bộ đội không? Có.

Có khổ sở 27 năm qua vì nhiệm vụ thiêng liêng cho tổ quốc và tình hữu nghị quốc tế không? Có. Giấy tờ còn nguyên vẹn đó. Thế tại sao mấy trăm ngày qua, cơ quan chức năng không lo cho ông ta nhập hộ khẩu, có chứng minh thư? Tại sao con ông ta đến tận khi tôi ngồi viết những dòng này, cháu Dương vẫn khóc, gia đình vẫn lo cháu tiếp tục tự tử, vì không có hộ khẩu, không có chứng minh thư để đăng ký kết hôn?

Sao người cán bộ không đặt mình trong tâm trạng của người trở về sau 27 năm được “cúng” trên bàn thờ như thế – để chia sẻ, cảm thông và nỗ lực vì họ? Nếu ai đó vì làm nhiệm vụ cho non sông mà bị thất lạc gia đình, quê hương suốt 27 năm tận cùng khổ sở, khi trở về, bố đã chết, bà nội đã chết, thì họ nghĩ gì?
Họ nghĩ gì thì nghĩ, nhưng, chắc chắn họ không thể tin được là mất hơn 600 ngày chạy vạy lo lắng mà Quê Hương không nhập khẩu, cấp chứng minh thư cho họ – Người Lính Đã Ra Đi Vì Tiếng Gọi Non Sông!

Sau khi các nhà báo “vạch trần” bi kịch tàn nhẫn này: Lần đầu tiên sau mấy trăm ngày hồi hương trong nước mắt, ông Hào đã được trân trọng đón tiếp cán bộ địa phương đến thăm. Rồi vài gói quà, cái chăn ấm có gắn các tờ giấy trắng in dòng chữ diêm dúa “nơi nọ nơi kia kính tặng”. Rồi xã, huyện và cấp cao hơn một tí cùng nhận lỗi. Phòng LĐTBXH thì thanh minh là mình không hiểu thủ tục.

Xã thì mắc lỗi không báo cáo lên huyện bằng văn bản, dù có gọi điện và báo cáo… mồm chuyện ông Hào bỗng dưng “từ cõi chết” tìm về. Các đoàn “thăm hỏi” tới tấp. Họ “thăm” vì tình cảm với ông, vì tri ân một người đã xông pha vệ quốc và chịu quá nhiều thiệt thòi sau 27 năm “ngự” trên bàn thờ, hay họ lo sợ trách nhiệm khi bị tố vô cảm với “liệt sĩ trở về”? Ông Hào bảo:

“Tôi không biết nói gì”. Rồi ông khóc. Một lời cảm ơn đoàn cán bộ sở do ông Phó Giám đốc dẫn đầu đến thăm, ông Hào cũng không nói. Ông cứ ngồi yên như pho tượng đá. Gia đình phải 
đỡ lời.

Đợi khách về hết, ông Hào mới thở dài với nhà báo: “Tôi đau lắm. Tôi đi nhặt phế liệu kiếm sống. Tôi cóp tiền. Tôi từng định bỏ 300.000 đồng ra mua xăng về tự tử. Đốt cái là hết. Con gái tôi thì uất quá tự tử, vì không có hộ khẩu, không có chứng minh thư. Trong khi nó phải lấy chồng.
Nhà chồng nó có người thân làm lãnh đạo xã sở tại, ông ấy khá kiên quyết “gương mẫu”, rằng là: Cháu dâu mình phải về nhà mình với giấy đăng ký kết hôn đàng hoàng. Thế rồi các cháu vẫn quyết cưới, nhưng xích mích đã xảy ra khi không thể đăng ký kết hôn. Cháu Dương đã tự tử”.
Ông Hào khóc. Khóc lặng đi rất lâu rồi lại khóc. Cậu ruột ông Hào đỡ lời: Hồi “thằng” Hào đi bội đội, tôi đang làm xã đội trưởng, giao cháu tôi cho cán bộ đem đi làm nhiệm vụ lớn. Vậy mà năm tháng trôi qua, không ai cho biết nó sống chết thế nào. Lúc già yếu, anh tôi (bố ông Hào, người cán bộ 30 năm tuổi Đảng), lọm khọm lên huyện hỏi tin tức rất nhiều lần. Mãi rồi họ mới gửi… giấy báo tử.
Giờ “nó” trở về, khổ quá là khổ. Rồi ông cậu cũng lại rơi nước mắt.

Anh Lê Xuân Vui – em ruột, người bao năm thờ cúng “liệt sĩ Lê Xuân Hào” – bèn đỡ lời, kể: Tôi đưa anh Hào lên công an huyện, đưa đi lo thủ tục nhiều lần lắm. Vào phòng của công an, “khai” cả buổi sáng, khai nhiều lần. Nhưng người ta không cấp cho anh ấy hộ khẩu và chứng minh thư. Có lần, đi lại mãi, họ cấp hộ khẩu một quyển đàng hoàng, có tên anh Hào và cháu Dương hẳn hoi.

Tuy nhiên, chiều hôm trước cấp thì sáng hôm sau Công an xã được cử đến… thu lại. Mãi đến tháng 8 năm 2013 vừa rồi, tức là sau hơn 2 năm anh Hào trở về, họ mới cấp hộ khẩu và làm chứng minh thư cho anh Hào. Riêng con gái anh, cháu Lê Thị Thùy Dương thì bây giờ vẫn “lưu lạc”, chưa nhập khẩu, chưa có chứng mình thư. Cháu đi làm dâu bên Sóc Sơn, sau vụ tự tử, mỗi lần về thăm bố nó đều khóc, buồn lắm.

Ông Hào đi hỏi tiếp, thì họ bảo lên “cơ sở hai” gì đó, ông chả biết ở đâu. Và người đi nhặt phế liệu kiếm sống lần hồi với bao vết thương trên thịt da và trong tâm khảm như ông, lấy đâu ra sức lực, tiền của để mà đi?

Xã bảo: Cắt chế độ liệt sĩ là việc của xã, còn lo chế độ cho “liệt sĩ trở về” là việc của cấp trên. Cấp trên thì bảo xã không báo cáo bằng văn bản nên không… biết. Hoặc biết nhưng không biết thủ tục phải làm thế nào. Hơn 2 năm đằng đẵng trôi qua. Và, thế là, ông Hào, vì sự gào réo của cái dạ dày, mới bèn đóng cái xe cải tiến đi thu mua phế liệu kiếm sống hằng ngày.

Người đàn bà quá lứa lỡ thì đến gá nghĩa với ông, chăm sóc ông lúc ốm đau bệnh tật một thân một mình ấy, gặp nhà báo, cứ rầu rĩ vuốt nước mắt nhìn chồng như van xin: “Em lấy chồng là để nương tựa vào chồng. Anh mà tự tử, thì anh giết em đi cho xong!”. Đứa con gái Thùy Dương thương nhớ của ông Hào đi làm dâu nhà người ta rồi, vẫn nói tiếng Việt bằng giọng Campuchia lơ lớ, khó nhọc.

Nó nhắn tin qua điện thoại cho nhà báo, cũng ngọng và sai chính tả chi chít như khi nói: Em đau buồn lắm, bao giờ em mới có hộ khẩu và chứng minh thư? Em tự tử vì không được đăng ký kết hôn anh ạ. Bố em định tự tử vì… cái hôm lên huyện xin thủ tục cho em cưới chồng mà không được ấy. Có người bảo bố em là phải… phải… thì người ta mới cho!

Lời thật thà của Thùy Dương làm chúng tôi có cảm giác ai đó dùng cật nứa cứa vào lục phủ ngũ tạng mình. Nó đã tự tử và đã đi xe cấp cứu lên Bạch Mai rửa ruột rành rành. Nếu ông Hào mua xăng tự thiêu thì tôi sẽ không mấy bất ngờ nữa. Lỗi là do ai? Không lẽ cứ nhận lỗi là xong? “
Thủ tục làm người còn sống” của một cựu binh làm nhiệm vụ vì non sông gấm vóc mà còn khó thế – đủ biết các thủ tục “hành là chính” khác nó chông gai đến mức nào! Tự hỏi: Không lẽ chúng ta cứ chấp nhận chung sống với sự rầy rà vô cảm đó mãi ư..?



Thursday, January 2, 2014

CSVN lừa đảo “Cứu nước” để “Xâm lăng miền Nam” rồi “Bán nước” cho Tàu

 

CSVN lừa đảo “Cứu nước” để “Xâm lăng miền Nam” rồi “Bán nước” cho Tàu

Written by Giáo Già
Ngày 30 tháng 4 năm 2013

H,

Ðọc lại “Cổ Học Tinh Hoa” của Nguyễn Văn Ngọc và Trần Lê Nhân, Giáo Già ghi nhận chuyện “Tăng Sâm Giết Người” có giá trị biểu tượng như sau: 
.

“Ông Tăng Sâm ở đất Phi, ở đấy có kẻ trùng danh với ông giết chết người.

Một người hớt hải chạy đến báo mẹ ông Tăng Sâm rằng: “Tăng Sâm giết người ”. Bà mẹ nói : “Chẳng khi nào con ta lại giết người”. Rồi bà điềm nhiên ngồi dệt cửi.

Một lúc lại có người đến bảo:“Tăng Sâm giết người”. Bà mẹ không nói gì, cứ điềm nhiên dệt cửi .

Một lúc lại có người đến bảo: “Tăng Sâm giết người” Bà mẹ sợ cuống, quăng thoi, trèo qua tường chạy trốn”.


Sách “Cổ Học Tinh Hoa” có Lời Bàn như sau:


“Tăng Sâm vốn là người hiền hậu, hiếu thảo, bà mẹ vốn là người trung tín, một bụng tin con. Thốt nhiên có kẻ bảo: “Tăng Sâm giết người”. Bà mẹ không tin, và người thứ hai bảo, còn chưa tin; đến người thứ ba bảo, thì cuống cuồng chạy trốn. Như thế mới hay cái dư luận của thiên hạ rất là mạnh. Một việc, dù cho sai lầm đến mười mươi, nhiều người đã có cùng một nghị luận đều như thế cả, thì cũng dễ khiến người ta nghi nghi hoặc hoặc rồi đem bụng tin mà cho là phải, nom đỉa hóa ra con rươi, trông con chó thành con cừu. Ðến như giữa chợ, làm gì có cọp! Thế mà một người, hai người, đến ba người nói có cọp, thiên hạ cũng tin có cọp thật nữa là! Những bậc ra được ngoài vòng dư luận, giữ vững được bụng như cây giữa rừng, như kiềng ba chân rất là hiếm, nhưng có thế được mới cao. Một chân lý có chứng minh rõ ràng, mười phần chắc chắn, thì mới nên công nhận”.
Từ chuyện “Tăng Sâm Giết Người” Giáo Già nghĩ ngay đến xảo thuật tuyên truyền của Cộng sản Việt Nam trong cuộc chiến “Xâm Lăng Miền Nam Việt Nam”, kết thúc 38 năm trước, tức ngày 30/4/1975, mà dư luận, từ Việt Nam đến quốc tế, đều bị đánh lừa là “Chống Mỹ Cứu Nước”.

Cho đến nay trò lừa này vẫn được chúng tiếp diễn, cho dầu sự thực đã được phơi bày đến độ trắng trợn. Xin đơn cử một thí dụ điển hình bằng chính chứng liệu do chúng công bố. Ðó là trên báo Tuổi Trẻ của chúng, ra ngày 18/04/2013, đăng bài “Công Bố Sách Lịch Sử Chống Mỹ Cứu Nước” như sau:

.

“Bộ sách Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975) vừa được công bố chính thức tại TP.HCM vào sáng 17-4 trong buổi công bố do NXB Chính Trị Quốc Gia - Sự Thật cùng với Ban Tuyên giáo trung ương, Thành ủy TP.HCM và Viện Lịch sử quân sự VN phối hợp tổ chức [Xem hình Bộ sách Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước trưng bày tại buổi công bố - Ảnh: L.Ðiền]. Ðây là bộ sách xuất phát từ bộ Lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước (1954-1975) xuất bản từ năm 1990-1991 do Viện Lịch sử quân sự biên soạn, nhưng chủ yếu phục vụ nghiên cứu, giảng dạy ở các học viện, các trường sĩ quan trong Quân đội nhân dân VN. Sau đó từ năm 1995-2012, Viện Lịch sử quân sự đã biên soạn bộ mới gồm chín tập, đã được NXB Chính Trị Quốc Gia lần này phổ biến rộng rãi trong cả nước”.

CSVN đâu có chống Mỹ cứu nước. Sáng ngày 30/4/1975 viên sĩ quan Cộng sản Bắc Việt Phạm Xuân Thệ vào dinh Ðộc Lập thúc ép Ðại tướng Dương Văn Minh đến đài phát thanh Sài Gòn tuyên bố đầu hàng đã phô bày trắng trợn thực tế xâm lăng Miền Nam Việt Nam của Cộng sản Bắc Việt chớ có chống người Mỹ nào để cứu nước đâu. Chuyện chống Mỹ cứu nước chỉ là một trò lừa, lộng giã thành chơn, như nói chuyện Tăng Sâm giết người. Vậy mà cho tới nay Việt cộng vẫn tiếp tục lừa, lừa dư luận và lừa chính chúng, tiếp tục viết sách và in sách lừa đảo sự thật.

Ðể vạch mặt trò lừa đảo này, nhìn vào lịch sử cuộc chiến, với trận chiến khốc liệt kết thúc ngày 30/4/1975, nhìn vào từng diễn biến của từng sự việc hầu như ai cũng thấy, nhưng có điều rất đau lòng là không có mấy người chịu phơi bày sự thật cho dư luận thấy và biết rõ trò lừa vô cùng bỉ ổi và nguy hiểm này của Việt cộng.

Hôm nay, nhân mùa Quốc Hận 30 tháng 4 năm 2013, Giáo Già xin nhắc lại một số điểm quan trọng cho thấy Mỹ không có “cướp nước” Việt Nam; vậy mà Việt cộng cứ buộc dân Việt Nam phải nghe theo chúng mà “chống Mỹ cứu nước”. Trong suốt mấy mươi năm qua chỉ có bọn cầm quyền Cộng sản Bắc Việt xâm lăng Miền Nam Việt Nam rồi cai trị cả nước bằng độc đảng độc tài, gây tang tóc quê hương và điêu linh dân tộc. Xin ghi lại một số điểm chánh:

1. Mỹ không hề xâm lược Việt Nam, hay rõ hơn là Miền Nam Việt Nam, như Việt cộng rêu rao; vì Mỹ đến Việt Nam không chiếm của Việt Nam một tất đất, một hải đảo nào. Họ cũng không cai trị Việt Nam bằng bất cứ một chánh quyền nào. Ngược lại họ chỉ giúp Miền Nam chống lại cuộc xâm lăng của Cộng sản Bắc Việt. Hơn thế nữa, họ còn giúp Miền Nam phát triển kinh tế để trở thành vùng đất phồn vinh ngang hàng, có khi hơn, các quốc gia phồn vinh trong vùng Ðông Nam Á, như Singapore, Ðài Loan, Thái Lan, Mã Lai, Indonesia...

2. Quân đội Mỹ có mặt ở Miền Nam Việt Nam trước hết là là để cố vấn quân lực Việt Nam Cộng Hòa còn non trẻ trong giai đoạn đầu. Khi Cộng sản Bắc Việt cho thành lập “Mặt trận Dân tộc Giải phóng Miền Nam” ngày 20/12/1960 đâu có ai thấy bóng dáng quân đội Mỹ ở Miền Nam Việt Nam. Năm 1965 Mỹ mới bắt đầu đưa quân vào Miền Nam Việt Nam để giúp Miền Nam Việt Nam chống lại Cộng sản Bắc Việt; vì cuộc xâm lăng Miền Nam Việt Nam của Cộng sản Bắc Việt ngày càng leo thang với số viện trợ quá dồi dào của Liên Sô, Trung cộng và khối Cộng sản quốc tế.

3. Chính Liên Sô, quốc gia chi viện nhiều nhứt cho Cộng sản Bắc Việt, trong một số tài liệu được giải mã, cũng nhìn nhận “Người Mỹ chắc chắn không xâm lược Việt Nam như cách người Pháp thực dân làm trước năm 1945...” Cộng sản Bắc Việt xâm lăng Miền Nam Việt Nam trong vai trò nhuộm đỏ vùng Ðông Nam Á cho Cộng sản quốc tế. Chính Lê Duẫn, Bí thư thứ nhất đảng Lao Ðộng (CSVN), đã từng nói: “Ta đánh Mỹ là đánh cho Liên Sô, đánh cho Trung Quốc.” (Vũ Thư Hiên, Ðêm giữa ban ngày, Nxb. Văn Nghệ, California, 1997, tr. 422 và tiết lộ của Nguyễn Mạnh Cầm, ngoại trưởng CSVN từ 1991 đến 2000, trong cuộc phỏng vấn của đài BBC ngày 24-1-2013.)

4. Hơn nữa, chính Trung cộng, qua cửa miệng Mao Trạch Ðông, muốn Cộng sản Bắc Việt chiếm Miền Nam Việt Nam để Tàu tràn xuống chiếm các vùng đất trù phú ở phía đông và nam Thái Bình Dương... nên việc “chống Mỹ cứu nước” không phải là cứu nước Việt Nam mà là mở rộng nước Tàu cộng, như mọi người đều biết là từ tháng 8 năm 1965, tại cuộc họp Bộ Chính trị Ban Chấp Hành Trung ương Ðảng Cộng sản Trung Quốc, Mao Trạch Ðông đã tuyên bố: “Chúng ta phải giành cho được Ðông Nam Á, gồm cả miền Nam Việt Nam, Thailand, Miến Ðiện, Malaysia, Singapore... Một vùng như Ðông Nam Á rất giàu, ở đấy có nhiều khoáng sản, xứng đáng với sự tốn kém cần thiết để chiếm lấy”.
Lê Ðức Thọ của CSVN và Henry Kissinger của Mỹ
5. Ðến khi sự có mặt ở Việt Nam không còn cần thiết nữa thì Mỹ cho thu xếp mọi chuyện tiến hành Hiệp định Paris, ký kết ngày 27 tháng 1 năm 1973, để rút quân về nước [xem hình Lê Ðức Thọ của CSVN và Henry Kissinger của Mỹ bắt tay nhau sau lễ ký kết]. Vì chuyện riêng của đất nước mình Mỹ không muốn giúp Việt Nam Cộng Hòa đánh Việt cộng nữa; họ thu xếp rút quân về chớ có thua đâu mà mỉa mai là “tháo chạy” như lời tựa cuốn sách của Tiến sĩ Nguyễn Tiến Hưng; để bộ đội Việt cộng ở lại khắp các chiến trường; để chúng mau lẹ vị phạm hiệp ước chúng vừa ký kết, xua quân tràn qua vĩ tuyến thứ 17, tràn ngập các chiến trường, tiến hành mau lẹ các trận đánh ác liệt, hoàn tất cuộc xâm lăng Miền Nam Việt Nam. Ðây cũng là cách Việt cộng Lê Ðức Thọ lừa đảo cả giải Nobel Hòa Bình thế giới, khiến họ đã trao giải “Nobel Hòa Bình” cho một tội phạm chiến tranh, để Việt Nam có một nền “hòa bình” khiến số người chết còn thê thảm hơn cả chiến tranh.

6. Ðiều cũng không được quên nữa là trong cuộc chiến bị Việt cộng gọi là “Chống Mỹ Cứu Nước” đó chúng đã dàn dựng quá nhiều chuyện để lên án quân đội Mỹ là “ác ôn” trong khi chẳng có một lần, cho dầu chỉ một lần, nói lên lòng nhân đạo của người quân nhân Mỹ như trong hình chụp đính kèm [xem hình].

Như vậy, chống Mỹ cứu nước chỉ là trò lừa của Cộng sản Bắc Việt để tiến hành cuộc xâm lăng Miền Nam Việt Nam, sau khi đã chiếm được một nửa nước Việt Nam, từ vĩ tuyến thứ 17 trở ra phía bắc, theo Hiệp định Genève năm 1954, với sự giúp đỡ tích cực của Trung cộng.

Do đó, danh xưng được dùng cho cuộc chiến không phải “Chống Mỹ Cứu Nước” mà là “Cuôc Chiến Xâm Lăng Miền Nam Việt Nam Của Cộng Sản Bắc Việt”.

Cùng lúc với trò lừa đảo “Chống Mỹ Cứu Nước” Cộng sản Bắc Việt cũng lừa đảo chuyện “Xâm Lăng Miền Nam Việt Nam” mà chúng đã chuẩn bị ngay khi Hiệp định Genève năm 1954 vừa ráo mực, vì chúng chỉ đưa một số cán binh lộ diện tập kết ra Bắc, còn lại thì ém ở các địa phương Miền Nam, trà trộn trong dân. Ðồng thời chúng cũng hối hả cho tổ chức những cuộc hôn nhân, cho cán binh cưới vợ rồi để vợ ở lại Miền Nam, làm cơ sở cho cán binh trở lại hoạt động, khi thời cơ cho phép; đó là chưa kể những người phụ nữ bất hạnh đó sinh cho chúng những đứa con làm gạch nối cho những hoạt động của chúng về sau, gây nên trùng trùng ngang trái trong đời sống của người dân Miền Nam, khi chúng tiến hành cuộc chiến xâm lăng Miền Nam Việt Nam. Mặt khác, trước khi cán binh Việt cộng lên đường tập kết, Việt cộng cũng cho chôn giấu võ khí ở một số nơi chúng dự trù làm căn cứ cho cuộc chiến mà chúng chuẩn bị trước.

Ðể che giấu mặt thật xâm lăng Miền Nam Việt Nam, Việt cộng dựng lên chiêu bài “giải phóng” để lừa đảo dư luận. Ngày 20/12/1960 chúng cho thành lập Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam. Nó được chính thức ra đời theo yêu cầu chiến tranh của Ðảng Lao động Việt Nam (CSVN), vào ngày 20 tháng 12 năm 1960, tại xã Tân Lập, huyện Châu Thành, tỉnh Tây Ninh, đặt dưới sự lãnh đạo của Bộ Chính trị và Trung ương Cục miền Nam.

Từ đó, dưới sự lừa đảo tinh vi, cuộc xâm lăng Miền Nam Việt Nam, qua chiêu bài “giải phóng”, được tiến hành ngày càng mãnh liệt hơn, với số bộ đội xâm nhập ngày càng đông hơn, vũ khí được trang bị tối tân hơn và sự tàn bạo của cán binh nhắm vào các viên chức Việt Nam Cộng Hòa và người dân có liên quan đến chánh quyền cũng dã man hơn... để cuối cùng kết thúc bằng sự lừa đảo thô bạo của Cộng sản Bắc Việt khi tiến quân vào Sài Gòn. Nó thể hiện qua thái độ xấc xược của tên sĩ quan Cộng sản Bắc Việt trực diện Ðại tướng Dương Văn Minh, ngồi ở dinh Ðộc Lập, sáng ngày 30/4/1975, chờ bàn giao chánh quyền Việt Nam Cộng Hòa cho chúng. Hắn thô bạo nói:

“Mầy dám nói là trao quyền hả? Mầy chỉ là một kẻ cướp quyền và một bù nhìn. Mầy làm gì có “quyền” nào để giao cho tao? Chúng tao lấy được quyền đó bằng khẩu súng nầy đây. Ngoài ra tao xác nhận với mầy là tao không phải là tướng mà chỉ là một trung tá ủy viên chánh trị của một đơn vị chiến xa. Kể từ bây giờ tao cấm mầy không được ngồi xuống!” [Trích Hồi ký của cựu Ðại tá Dương Hiếu Nghĩa, thuật lại theo lời kể của cựu Trung tá Nguyễn văn Binh, cựu quận trưởng quận Gò Vấp, (anh rễ của Ngô công Ðức, cũng là bạn thân của cựu Ðại tá Nghĩa) người cũng có mặt tại Dinh Ðộc Lập từ sáng ngày 30/4... Xem hình Ðại tướng Minh đọc lời tuyên bố đầu hàng do Việt cộng soạn ở đài phát thanh Sài Gòn] 
Cuộc xâm lăng Miền Nam Việt Nam hoàn tất. Vai trò Giải phóng Miền Nam Việt Nam coi như đã xong. Tưởng như mọi chuyện đều tốt đẹp. Nhưng nỗi kinh hoàng đã thật sự trùm phủ toàn cõi Miền Nam Việt Nam. Nó được ghi lại qua bài viết mang tên “GIẢI PHÓNG” NỔI KINH HOÀNG CỦA NGƯỜI DÂN VIỆT” của Tiến Sĩ Việt cộng Lê Hiễn Dương, nguyên Hiệu Trưởng Ðại Học Ðồng Tháp. Xin trích nguyên văn:
“Còn nhớ ngày 30 táng 4 năm 1975, lúc đó chúng tôi còn là sinh viên của đại học sư phạm Vinh đã hồ hởi, phấn khởi hò reo meeting nhiều đêm ngày để mừng Miền Nam được hoàn toàn giải phóng, bởi chúng tôi tin rằng từ đây đồng bào Miền Nam ruột thịt của chúng tôi sẽ không còn đói rách lầm than và không còn sống trong cảnh “Ngụy kềm, Mỹ kẹp” nữa... Họ đã được đảng và Bác cùng nhân dân Miền Bắc chúng tôi “giải phóng”. Và những tháng tiếp theo đó chúng tôi được tận mắt nhìn thấy hàng đàn hàng lủ bọn “ngụy quyền ác ôn”!? bị sự trừng phạt bởi chính quyền cách mạng, của nhân dân miền Bắc và của chính chúng tôi... Số là mỗi tuần một lần. chúng tôi được chính quyền và ban giám hiệu nhà trường thông báo vào những ngày giờ có những ô tô của cục quân pháp chuyển tù cải tạo là những sỹ quan, “ngụy quyền ác ôn” của chính quyền Mỹ Thiệu đi ngang qua địa phương để đến các trại cải tạo ở mạn ngược. Cùng với đồng bào địa phương, mỗi sinh viên chúng tôi phải chuẩn bị đầy đủ số đá trứng nhặt từ đường ray xe lửa để khi đoàn xe tù đi ngang qua là hô hào toàn dân trút những trận mưa đá lên đầu những tên “ngụy quyền” ác ôn này, bởi chúng có quá nhiều nợ máu với nhân dân, với đất nước... Và sau mỗi lần trừng trị bọn ngụy quyền ác ôn đó, chúng tôi đều có hội họp, báo công và được tuyên dương khen thửơng, được kết nạp vào đoàn, được vinh dự đứng vào hang ngũ của đảng vì đã “đả thương” được bao nhiêu sỹ quan ngụy quyền đó.!? Tất nhiên là cũng có nhiều buổi họp báo công, chúng tôi cũng bị phê bình kiểm điểm vì đã không có trường hợp thương vong nào được ghi nhận trong những vụ “tập kích” đó...?? [xem hình Quân đội Bắc Việt áp giải tù binh miền Nam, tháng 5 năm 1975. AFP PHOTO]

Kết thúc 4 năm đại học với vô số những cuộc tập kích để ném đá vào những xe chuyển tù, rồi chúng tôi cũng tốt nghiệp đại học, rồi được đảng và nhà nước chi viện vào miền Nam để mang “ánh sáng văn hóa” vào cho đồng bào miền Nam ruột thịt bao năm qua sống trong u tối lầm than vì cứ liên miên bị Ngụy kềm Mỹ kẹp chứ đâu có học hành gì!?

. Chúng tôi thực sự choáng ngợp khi xe qua khỏi vùng chiến sự Quảng Trị, đến Huế, đến Ðà Nẵng... rồi Nha Trang, Sài Gòn, rồi về Miền Tây, đến thị trấn Cao Lãnh, đâu đâu cũng lầu đài phố xá, chứ có tường đất mái tranh như ở thành phố Vinh chúng tôi đâu.

Nhận xong nhiệm sở từ ty giáo dục Ðồng Tháp, chúng tôi được đưa về công tác tại trường trung học sư phạm Ðồng Tháp ngay tại trung tâm của thị trấn Cao Lãnh, và tại đây, trong suốt nhiều năm liền chúng tôi được bố trí ở tại khách sạn Thiên Lợi mà chính quyền cách mạng đã tịch biên từ tên “tư sản” Thiên Lợi... Chúng tôi đi từ choáng ngợp này đến choáng ngợp khác, bởi đây là lần đầu tiên chúng tôi biết được thế nào là “Khách Sạn”, biết được thế nào là lavabo là toilet tự xả nước, bởi cả thành phố Vinh, cả tỉnh Nghệ An chúng tôi hay thậm chí cả miền Bắc XHCN lúc bấy giờ là không có, chỉ sử dụng hố xí lộ thiên, để còn dùng nguồn “phân Bắc” này để canh tác, để tăng gia sản xuất theo sáng kiến kinh nghiệm “cấp nhà nước” của đại tướng Nguyễn Chí Thanh mà được bác Hồ khen thưởng và có thơ ca ngợi rằng:

“Hoan hô anh Nguyễn Chí Thanh
Anh về phân Bắc, phân xanh đầy nhà”...

Thậm chí ở xã Hưng Lĩnh, Hưng Nguyên quê tôi lúc bấy giờ còn có cả những vụ án các tập đoàn viên, các hợp tác xã viên “can tội trộm cắp” phân bắc từ các hố xí của láng giềng để nộp cho hợp tác xã...!?. Tôi thấm thía hơn với những câu thơ ca ngợi miền Bắc đi lên XHCN của Tố Hữu mà ngoài sinh viên học sinh chúng tôi ra thì hầu như cả nhân dân miền Bắc lúc bấy giờ ai cũng thuộc nằm lòng:

“Dọn tí phân rơi nhặt từng ngọn lá
Mỗi hòn than mẩu thóc cân ngô
Hai tay ta gom góp dựng cơ đồ...”

Tôi bắt đầu nghi ngờ với cụm từ “giải phóng miền nam”... Rồi những trận đổi tiền để đánh tư sản, rồi nhiều nhà cửa của đồng bào bị tịch biên, rồi hàng triệu đồng bào bắt đầu bỏ nước ra đi, nhiều giáo sinh của trường chúng tôi cũng vắng dần theo làn sóng đi tìm tự do đó... Tôi bắt đầu hiểu đích thực ý nghĩa của cụm từ “giải phóng niền nam” và bắt đầu cảm thấy xấu hổ cho bao nhiêu năm sống trong niềm ảo vọng mù quáng của bản thân... mà dù ở chừng mực nào cũng được xem là thành phần trí thức trong xã hội...

Dần dần tôi hiểu sâu hơn cái sự mỉa mai chua chát của hai từ “GIẢI PHÓNG” đang được dùng trong kho tàng Tiếng Việt của nước nhà... “Giải phóng miền nam” thực sự có mang lại niềm vui, niềm hạnh phúc vô biên và cả sự thịnh vượng nữa với gia sản có thể đột ngột tăng lên cả 16 tấn vàng ròng... (từ ngân hàng chế độ Saìgòn Miền Nam để lại) Nhưng tất nhiên chỉ cho một thiểu số trong xã hội XHCN miền Bắc, chỉ chừng 16 người trong tổng số non 50 triệu dân lúc bấy giờ thôi... Còn lại thì “giải phóng” đồng nghĩa với nhân dân miền Bắc là cảnh nhà nhà côi cút vì “sinh Bắc tử Nam” mất con, mất chồng, mất cha, mất anh mất em bởi họ đã vào chiến trường miền Nam để đi “giải phóng” và không bao giờ trở về nữa... “Giải phóng” với dân miền Nam cũng có nghĩa là tù đày, là cải tạo nơi rừng thiêng nước độc, là mất vợ... mất con, mất nhà cửa ruộng vườn, mất bao nhiêu người thân trên biển cả và mất hết tự do dân chủ nhân quyền và mất luôn cả tổ quốc nơi mình sinh ra!

Rồi đến “giải phóng mặt bằng” cũng chỉ mang nguồn lợi lớn lao cho “muôn quan” địa phương, nhưng lại là nỗi ám ảnh, nỗi hãi hùng của “muôn dân”, bởi sau “giải phóng mặt bằng” là hàng trăm đồng bào lại phải vô tù ra khám bởi tội “chống người thi hành công vụ”, bởi sau giải phóng mặt bằng là cái chết của thiếu niên Lê Xuân Dũng và Lê Hữu Nam, là thương tật của nông dân Lê thị Thanh.

Chẳng biết người dân Việt nam từ nay còn dùng cụm từ “trước ngày giải phóng” hay “sau ngày giải phóng” để định mốc thời gian nữa không... Riêng tôi, tôi cảm thấy quá căm thù nhân loại bởi đã bịa ra từ ngữ “giải phóng” và “giải phóng mặt bằng” mà chi để dân Việt chúng tôi vì nó mà phải khổ lụy đến dường này.

Ðồng Tháp ngày 29 tháng 5 năm 2010

Tiến Sỹ Lê Hiển Dương
Nguyên Hiệu Trưởng Ðại Học Ðồng Tháp. 


Bên cạnh nỗi kinh hoàng của Tiến sĩ Việt cộng Lê Hiễn Dương, mọi người ai cũng thấy, sau năm 1975, không lâu sau khi người Miền Bắc tràn vào Miền Nam, vấn nạn “giải phóng” xoay ngược chiều mau lẹ, khiến dư luận đặt ngay câu hỏi “ai giải phóng ai?” [xem biếm họa của Babui trích từ DCV Online]

Thật vậy, buổi đầu, người Miền Nam bị những kẻ cao ngạo Miền Bắc tự cho là “chiến thắng” ép sống theo phong cách của người Miền Bắc, từ cách ăn mặc cho đến ngôn ngữ và lối cư xử hằng ngày... Nhưng, trừ bọn “cách mạng 30”, và những kẻ theo đuôi, chẳng có mấy ai theo.

Trong khi đó, trái lại, hầu hết người Miền Bắc có dịp vào Nam, hay có dịp tiếp xúc với người Miền Nam ra Bắc, họ đều học theo phong cách của người Miền Nam, cái phong cách mà trong mấy ngày đầu 30 tháng 4 năm 1975 chúng cho là “đồi trụy”. Họ ăn mặc theo kiểu cách của người Miền Nam, đua đòi theo thời trang của người Miền Nam, say mê nghe “nhạc vàng”, tìm đọc sách của các tác giả Miền Nam mà chúng từng cho là “đồi trụy”, từng bị chúng kiểm kê, tịch thâu, đốt bỏ, lấy làm giấy gói đồ... Ngay cả nam cán bộ lãnh đạo hàng đầu của chúng cũng đua đòi mang giày da, thắt cà vạt..., nữ cán bộ mặc áo dài may đúng thời trang... trang điểm phấn son... đến độ coi như tất cả đã bị Miền Nam đồng hóa... khiến kẻ bại nghiểm nhiên trở thành người thắng trên đủ mọi lãnh vực...
Bìa cuốn DVD Đại Họa Mất Nước
Xâm lăng được Miền Nam Việt Nam rồi Cộng sản Bắc Việt không “giải phóng” được Miền Nam mà chúng đã lần hồi được người Miền Nam “giải phóng” khỏi cái lạc hậu mấy mươi năm trước, để chúng hãnh diện đua đòi sống theo phong cách Miền Nam. Nhưng, bất hạnh thay, cái coi như “chiến thắng” của chúng không phải để phát triển và xây dựng đất nước Việt Nam mà để từng hồi “bán nước” cho Tàu, gây thành đại họa mất nước. Vấn nạn này đã từng được trình bày sống động qua cuốn DVD Ðại Họa Mất Nước do Ðại Gia Ðình Nguyễn Ngọc Huy thực hiện và phát hành 3 năm trước [2010 ố Xem hình].

Hôm nay, theo dõi những chuyển biến thời cuộc trong thời gian gần đây Giáo Già xin được ghi nhận một số sự kiện tiêu biểu CSVN đã bán nước như thế nào, để thấy những nỗ lực “chống Tàu diệt Việt cộng” cần được đẩy mạnh hơn nữa, khi đại họa mất nước đang là những thực tế phũ phàng đè nặng đất nước và dân tộc Việt:

1. Cho tới nay, rất nhiều lần Cộng sản Việt Nam tìm đủ mọi cách để cải chính, nhưng phần lãnh thổ ở biên giới và lãnh hải bị Trung Cộng lấn chiếm từ thời Tổng Bí Thư Lê Khả Phiêu không cách gì che giấu được khi nó đã rõ trong 3 văn kiện, gồm:

(1) “Hiệp ước biên giới trên đất liền” (30/12/1999);

(2) “Hiệp định về phân định lãnh hải, vùng đặc quyền kinh tế và thềm lục địa của hai nước trong vịnh Bắc Bộ”; và

(3) “Hiệp định hợp tác nghề cá ở Vịnh Bắc Bộ” (25/12/2000).

Chính người của CSVN là Thiếu tướng Nguyễn Trọng Vĩnh, nguyên Ðại sứ của CSVN tại Bắc Kinh từ 1974 đến 1989, đã nói như sau:

“Ðánh ta năm 1979 một mặt gạt bỏ sự hàm ơn của ta đối với những giúp đỡ trước đây của nhân dân Trung Quốc, mặt khác tự phơi bày ý đồ vụ lợi trong sự viện trợ cho ta. Khi không đạt được thì trở mặt... Năm 1984, Trung Quốc huy động một Trung đoàn với hỏa lực mạnh liên tục tấn công bắn giết phân đội quân ta đóng giữ cao điểm 1.502 ở huyện Vị Xuyên, cuối cùng chiếm lấy cao điểm ấy làm điểm quan sát từ xa, nhòm vào nội địa ta. Ở biên giới phía Bắc nước ta từ trước đến nay, dân hai bên đã có những việc xâm canh, xâm cư, dân ta cũng có một số điểm xâm canh sang đất Trung Quốc, diện tích không đáng kể, dân Trung Quốc xâm canh, xâm cư sang nước ta tại rất nhiều điểm, tổng diện tích khá lớn. Trong đàm phán phân định biên giới, Trung Quốc luôn nêu lên “phân định theo hiện trạng”, tranh luận qua lại, Trung Quốc luôn nêu “nhân nhượng lẫn nhau vì đại cục(?),cuối cùng Trung Quốc vẫn ăn hơn thì mới chịu. Thác Bản Giốc vốn của ta nay họ chiếm đứt được một nửa. Xưa Nguyễn Trãi tiễn cha đến tận ải Nam Quan, trước nay ta vẫn nói đất nước ta từ ải Nam Quan đến mũi Cà Mau, sau đàm phán, biên giới nước ta tụt lùi xuống mãi đến chợ Tân Thanh, đối diện đã là trụ sở hải quan của Trung Quốc...” (17-03-2010, Bauxite Việt Nam)

Lính Trung Quốc hay công nhân Trung Quốc tại Việt Nam.
2. Tiếp theo sau Lê Khả Phiêu, khi ông Nông Ðức Mạnh lên làm Tổng Bí thư liền hai khóa đảng IX và X (từ 22/04/2001 đến 12/01/2011), ông này, với sự đồng thuận của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng đã để cho Trung Cộng vào khai thác Bauxite ở Tây Nguyên, mặc dù không có phép của Ủy ban Trung ương đảng và của Quốc hội. Theo tiết lộ WikiLeaks [ghi nhận được trên Google]: “Vụ Bauxite Tây Nguyên, Nông Ðức Mạnh nhận 300 triệu USD và Nguyễn Tấn Dũng nhận 150 triệu USD là có thật. Tiết lộ này cho biết những chuyển ngân cho gia đình Thủ Tướng Nguyền Tấn Dũng chỉ bắt đầu vào cuối năm 2006 và đến tháng 6 năm 2009 thì tổng số cũng đã lên khoảng gần 150 triệu đô la. Kể từ cuối năm 2001 đã có những giao dịch chuyển ngân hàng chục triệu đô la từ Trung Quốc sang các tài khoản của gia đình Tổng Bí Thư Nông Ðức Mạnh ở Thụy Sĩ và ở Cayman Islands. Vào thời điểm của điện văn này là tháng 6 năm 2009 thì tổng số đã chuyển ngân lên tới gần 300 triệu đô la...” Ngoài ra, Radio Chân Trời Mới ngày16/6/2009 cũng nói rằng “Theo nguồn tin cao cấp từ giới lãnh đạo đảng CSVN vừa được tiết lộ và kiểm chứng qua một số thành viên ngoại giao đoàn tại Hà Nội thì từ tháng 10/2008, nhà cầm quyền Trung Quốc qua mạng lưới ngân hàng ngoại vi của họ đã chuyển nạp vào hệ thống kinh doanh của gia đình Thủ Tướng Nguyễn Tấn Dũng tổng cộng hơn 150 triệu đô la Mỹ.Phần lớn số tiền này nằm bên ngoài lãnh thổ Việt Nam. Vẫn theo nguồn tin mà Radio Chân Trời Mới nhận được thì đây là món tiền để trao đổi với việc ông Nguyễn Tấn Dũng chấp thuận và tiếp tục đẩy mạnh kế hoạch khai thác Bô-xít Tây Nguyên tại 2 địa điểm hiện nay là Ðắc Nông và Tân Rai, bất kể các phản đối từ công luận và thành phần chuyên gia công nghệ, quân sự Việt Nam” [Xem thêm “Từ Bauxite đến Uranium, tiến trình đô hộ Việt Nam của Trung cộng, của Mai Thanh Truyết, Trần Minh Xuân, Phan Văn Song, Mekong-Tỵnạn tái bản, 2012].

3. Rất nhiều Công ty của Trung Cộng đã được ưu tiên “trúng thầu” nhiều dự án kinh tế với giá rẻ, chiếm nhiều vị trí chiến lược dọc theo bờ biển và dọc theo biền giới... Ở những nơi Trung cộng hiện diện Nhà nước CSVN đều để chúng coi như lãnh địa của chúng, cho thiết lập những làng xóm cho bọn người của chúng cư trú, xem thường luật pháp Việt Nam...

4. CSVN cũng cho Trung cộng xâm nhập lãnh thổ Việt Nam qua kế họach cho thuê rừng dài hạn đến 50 năm, để chúng trọn quyền khai thác, phá rừng và trồng rừng... coi như lãnh thổ của chúng; đặc biệt là phần lãnh thổ chiến lược dọc theo biên giới...

5. Ðến khi Nguyễn Phú Trọng nhận chức Tổng Bí thư ngày 19-01-2011 tại Ðại hội đảng khóa XI; chỉ 10 tháng sau, Trọng sang Bắc Kinh ký 6 điểm thỏa hiệp với Tổng Bí thư đảng Cộng sản Trung Cộng là Hồ Cẩm Ðào gọi là “Nguyên tắc giải quyết vấn đề trên biển Việt-Trung”, để “hợp tác cùng phát triển”. Ðược biết, thỏa hiệp Nguyễn Phú Trọng ký ở Bắc Kinh ngày 11/10/2011 có điểm quan trọng là:

• Ðiểm 5: “Giải quyết các vấn đề trên biển theo tinh thần tuần tự tiệm tiến, dễ trước khó sau. Vững bước thúc đẩy đàm phán phân định vùng biển ngoài cửa Vịnh Bắc Bộ, đồng thời tích cực bàn bạc về vấn đề hợp tác cùng phát triển tại vùng biển này. Tích cực thúc đẩy hợp tác trên các lĩnh vực ít nhạy cảm như bảo vệ môi trường biển, nghiên cứu khoa học biển, tìm kiếm, cứu hộ cứu nạn trên biển, phòng chống, giảm thiểu thiệt hại do thiên tai. Nỗ lực tăng cường tin cậy lẫn nhau để tạo điều kiện cho việc giải quyết các vấn đề khó khăn hơn.”

Nhưng Trung Cộng đâu có chủ quyền lãnh hải ở Biển Ðông trong lãnh hải của Việt Nam mà đòi “hợp tác cùng phát triển”?.

6. Ngang ngược hơn nữa là giờ đây, Trung Cộng đã gọi đấu thầu Quốc tế ít nhất là 9 lô tìm kiếm dầu trong vùng “đặc quyền kinh tế” của Việt Nam, hoặc “nằm chồng lên” các lô tìm kiếm mà chính Việt Nam đã gọi thầu Quốc tế trước Trung Cộng, ở giữa Quần đảo Trường Sa và bở biển tỉnh Khánh Hòa! Trung Cộng cũng đã và đang khai thác dầu trong vùng Vịnh Bắc Bộ mặc dầu hai bên chưa ngã ngũ về đường ranh giới chủ quyền, theo Thỏa hiệp năm 2000, dưới thời Lê Khả Phiêu...

Hôm nay, lại đến ngày Quốc Hận 30 tháng 4, ngày Cộng sản Bắc Việt hoàn tất cuộc xâm lăng Miền Nam 38 năm trước (30/4/1975), và đang bán nước cho Tàu cộng, hầu hết mọi nơi ở hải ngoại đều có tổ chức ngày tưởng niệm ngày tang chung của dân tộc, ngày đau thương của đất nước, với nhiều nghi thức vinh danh những anh hùng dân tộc đã hy sinh cho Tổ Quốc Việt Nam; và lên án Cộng sản đã và đang đưa đất nước đến thảm họa; đã và đang cai trị toàn cỏi Việt Nam bằng độc đảng độc tài; đã và đang đưa dân tộc vào đại họa Bắc thuộc lần thứ 5.

Hai ngày trước, đề cặp đến vấn nạn này, ngày 28/4/2013, thông tín viên Hiền Vy, trong một bài viết được đưa lên đài RFA đã nói rằng:“...38 năm trôi qua, những sự thật về “chiến thắng”, “giải phóng”, hay “xâm lăng” đã hiện rõ, ai là bên thắng, ai là bên thua và chính nghĩa ở đâu, đã phơi bày. Kỹ thuật tân tiến về thông tin đã làm các mặt nạ “giải phóng” rơi xuống. Hiện tình đất nước đổi thay, Việt Nam đang phát triển hay mất dần vào tay Trung Quốc? Sự thật bi đát đã phơi bày và chính những người trẻ sống và lớn lên trong chế độ như Việt Khang, Ðoàn văn Vươn, Nguyễn Ðức Kiên... là những nhân chứng sống hùng hồn cho những ai còn ảo tưởng về Xã Hội Chủ Nghĩa. Người dân Việt trong nước vẫn tiếp tục hy sinh và giai cấp độc quyền thống trị chỉ biết có quyền lợi riêng tư đang ngự trị trên quê hương. Rất nhiều người cho rằng những người cầm quyền không hề quan tâm đến sự tồn vong của đất nước. Không ít người tự hỏi, phải chăng “nhà nước” đang góp phần tích cực phục vụ cho âm mưu biến Việt Nam thành một phần của Trung Quốc”.

nguon :vietvungvinh

Posted by Phuongnam Đ at  6:03 AM  

__._,_.___

My Blog List