Hình ảnh nói lên: Sự kiện Tội Ác Việt Cộng ! ! !






https://blogger.googleusercontent.com/img/b/R29vZ2xl/AVvXsEj6kLmYKa-hPj1HvFQ9_a90KHJhUV_iUMIMpX4OuUtcp6iY8tidLohE38X7ObP2c42O5V9-qDdwu0FmyTgJjcSZI_uM_-UibAiDC_1ucag_fkHs2pV3BymecImeC0W5_uks9TF3NPCej5k/s1600/babui-danlambao-%C4%90a%CC%82%CC%81t+nu%CC%9Bo%CC%9B%CC%81c+la%CC%80+ca%CC%81i+%C4%91uo%CC%82i+sam1.jpg








Monday, April 7, 2014

Báo Anh viết Việt Nam lột da chó làm... găng tay


 
Báo Anh viết Việt Nam lột da chó làm... găng tay
Khi đảng kỷ niệm ngày 4 tốt

- Tờ báo Anh khẳng định, ở Việt Nam, thịt chó không chỉ là một loại đặc sản, mà da chó đang ngày càng được sử dụng rộng rãi ví dụ như được sản xuất làm... găng tay.
Việc người dân ở một số quốc gia Châu Á (trong đó có Việt Nam) ăn thịt chó, giết chó lấy da… lại vừa xuất hiện trên tờ tin tức Dailymail của Anh.

Trong đó, trang tin này đề cập tới một câu chuyện khá mới, đó là ở Thái Lan, những gia đình đang nuôi chó đều phải thận trọng hơn trong việc giữ chó nhà mình bởi ở đây bắt đầu manh nha xuất hiện nạn trộm chó.
Dailymail cho rằng số chó được mua hoặc bị trộm ở Thái Lan, rồi đem bán ra nước ngoài, chủ yếu là để đáp ứng nhu cầu của hai quốc gia lân cận là Việt Nam và Trung Quốc.
Ở Việt Nam, thịt chó vốn được coi là một loại đặc sản, ngoài ra, Dailymail còn khẳng định da chó đang ngày càng được sử dụng rộng rãi để sản xuất những món đồ da, cụ thể là găng tay đánh golf. Thị trường sản xuất găng tay đánh golf làm từ da chó được cho là đã tồn tại ở Việt Nam và Trung Quốc.
Báo Anh viết “đặc sản” thịt chó ở Việt Nam có nguồn gốc từ Thái Lan
Những xe chở đầy chó như thế này là hình ảnh rất xa lạ đối với những người phương Tây. Đối với họ, việc nhồi nhét những chú chó vào trong những chiếc lồng chật hẹp đã là một hành động độc ác.
Găng tay bằng da chó được cho là rất mềm và phù hợp để làm găng tay đánh golf.
Găng tay bằng da chó được cho là rất mềm và phù hợp để làm găng tay đánh golf.
Găng tay bằng da chó được cho là rất mềm và phù hợp để làm găng tay đánh golf.
Ở Thái Lan, việc giết chó lấy thịt hoặc da là một hành vi bất hợp pháp. Cảnh sát nước này hiện đang đau đầu đối phó với nạn bắt trộm và giết hại chó.
Tháng 10/2013, tờ Guardian của Anh đã từng đăng tải một bài viết với nhiều thông tin xoay quanh món thịt chó của người dân Việt Nam.
Mỗi năm có khoảng 5 triệu chú chó được các nhà hàng từ bình dân cho tới cao cấp ở Việt Nam tiêu thụ, chúng được sử dụng làm nguyên liệu cho các món “cầy tơ”.
Nhu cầu về thịt chó ở Việt Nam quá cao khiến nghề cung cấp thịt chó giờ trở thành một ngành nghề phát đạt, sinh lời, không chỉ thu hút một bộ phận người dân trong nước tham gia kinh doanh mà thậm chí còn thu hút cả nguồn cung từ nước ngoài.
Chiếc xe tải chở khoảng 130 chú chó. Điểm dừng chân của chúng sẽ là ở những lò giết mổ.
Chiếc xe tải chở khoảng 130 chú chó. Điểm dừng chân của chúng sẽ là ở những lò giết mổ.
Đối với văn hóa phương Tây, chó được coi là người bạn thân thiết và trung thành của con người. Trong gia đình, chó được coi như một thành viên, được cả nhà yêu mến, chăm sóc. Vì vậy, trước món thịt chó mà người Việt Nam vốn rất ưa chuộng, phóng viên của tờ Guardian bày tỏ sự sững sờ, sửng sốt.
Phóng viên của Guardian thậm chí còn biết được thông tin các cửa hàng buôn bán thịt chó khan hàng tới mức ở Việt Nam có những người chuyên đi bắt trộm chó. Nếu bị người dân bắt được, anh ta chắc chắn sẽ bị một trận đòn nhừ tử. Nguồn cung cấp trong nước là không đủ, Việt Nam phải tìm tới những nguồn cung cấp từ nước ngoài.
Mỗi năm có khoảng 300.000 chú chó bị ken chặt trong những chiếc lồng sắt vận chuyển từ Thái Lan, đi qua lưu vực sông Mekong, sang Lào và sau đó được đưa vào Việt Nam.
Chiếc xe tải chở khoảng 130 chú chó. Điểm dừng chân của chúng sẽ là ở những lò giết mổ.
Những quán bán thịt chó ở Hà Nội thường mọc lên cạnh nhau và tạo thành những phố thịt chó, như Cầu Giấy, Tam Trinh… Ở những phố này, có hàng tá quán bán thịt chó mọc lên san sát.
Người Việt Nam thích nuôi chó và rất nhiều người có chó cưng ở nhà nhưng họ vẫn ra quán để ăn thịt chó. Mọi việc sẽ nhẹ nhàng hơn khi nghĩ rằng mình đang ăn thịt một con chó xa lạ nào đó. Nhìn chung, thịt chó là món đặc sản truyền thống của Việt Nam, không dễ gì mà xóa bỏ được.
Cuối cùng, để lý giải cho sở thích ẩm thực đặc biệt của người Việt Nam, tờ Guardian cho rằng sở thích này cũng giống như người Tây Ban Nha thích đấu bò tót hay người Canada thường giết hải cẩu con để lấy lông…



Sunday, April 6, 2014

Giáo dục Việt Nam: Cố sửa hay trở về gốc?

Giáo dục Việt Nam: Cố sửa hay trở về gốc?


Nguyễn Quang Duy (Danlambao) - Trước tình trạng khủng hoảng giáo dục, Tổng Bí thư đảng Cộng sản VN, ông Nguyễn Phú Trọng từng hỏi “Chúng ta đã ba lần cải cách giáo dục, vì sao lần này không đặt vấn đề cải cách mà là đổi mới căn bản, toàn diện?”

Rồi ông Trọng đặt câu hỏi tại Bộ Giáo dục và Đào tạo từ hồi tháng 8/2012: “Việt Nam đã có triết lý về giáo dục chưa, hay là người học ở Anh về bảo phải như thế này, người học ở Mỹ bảo thế kia”.

Cho đến nay, công tác “cải cách” vẫn không có gì tiến triển và câu trả lời ngắn gọn là trước đây tại miền Nam nền giáo dục đã dựa trên ba triết lý căn bản: dân tộc, khai phóng và nhân bản.

Cũng cần biết trong năm học tới 2014-15 nước Mỹ sẽ bước vào một cuộc cải cách giáo dục quan trọng nhất từ trước đến nay. Họ sẽ áp dụng phương cách giảng dạy và học tập mới, trở lại căn bản lấy nhân bản và khai phóng làm triết lý giáo dục.

Triết lý giáo dục Miền Nam

Năm 1958, một Đại hội Giáo dục quy tụ phụ huynh, thân hào nhân sĩ, học giả, đại diện quân đội, chính quyền, các tổ chức quần chúng và cơ quan văn hóa giáo dục đã được tổ chức tại Sài Gòn nhằm đề ra một triết lý giáo dục cho miền Nam.

Đại hội đồng thuận chọn ba nguyên tắc dân tộc, khai phóng và nhân bản làm căn bản.

Đến thời Đệ Nhị Cộng Hòa, năm 1964, một Đại Hội khác lại được tổ chức tại Sài Gòn nhằm xem xét lại triết lý nói trên. Kết quả Đại Hội tiếp tục nhìn nhận ba nguyên tắc.

Sau đó ba nguyên tắc đã được Quốc Hội Lập Hiến đưa vào Điều 11.1 Hiến pháp Việt Nam Cộng Hòa 1967: “Văn hóa giáo dục phải được đặt vào hàng quốc sách trên căn bản dân tộc, khoa học và nhân bản.”

Theo nguyên tắc, nền giáo dục dân tộc chủ trương tôn trọng, bảo tồn và phát huy những bản sắn và giá trị tốt đẹp của dân tộc. Dân tộc tính trong văn hóa cần phải được các thế hệ biết đến, bảo tồn và phát huy, để không bị mất đi hay tan biến trong những nền văn hóa khác.

Nền giáo dục khai phóng chủ trương lấy tinh thần dân tộc làm gốc nhưng mở rộng tiếp nhận văn hóa văn minh nhân lọai. Sẵn sàng tiếp nhận những kiến thức khoa học kỹ thuật tân tiến trên thế giới, tiếp nhận tinh thần dân chủ, phát triển xã hội, giá trị văn hóa nhân loại để góp phần hiện đại hóa quốc gia, làm cho xã hội tiến bộ để tiếp cận với văn minh thế giới.

Còn giáo dục nhân bản chủ trương lấy con người làm gốc, lấy cuộc sống của con người làm căn bản, không xem con người như một phương tiện hay công cụ phục vụ cho mục tiêu của bất cứ cá nhân, đảng hay tổ chức nào.

Triết lý nhân bản chấp nhận sự khác biệt giữa các cá nhân, nhưng không chấp nhận việc sử dụng khác biệt đó để đánh giá con người, cũng không chấp nhận kỳ thị hay phân biệt giàu nghèo, địa phương, tôn giáo, chủng tộc, chính kiến. Mọi người đều có giá trị như nhau và đều có quyền được hưởng những cơ hội bình đẳng về giáo dục.

Mục tiêu giáo dục Miền Nam

Từ triết lý căn bản chính quyền Việt Nam Cộng hòa đã đề ra ba mục tiêu cho giáo dục như sau:

Giáo dục hướng đến việc phát triển toàn diện mỗi cá nhân theo bản tính và quy luật phát triển tự nhiên cả về thể chất lẫn tâm lý của mỗi người. Nhân cách và khả năng riêng của học sinh phải được lưu ý đúng mức, cung cấp cho học sinh đầy đủ thông tin và dữ kiện để học sinh tự phán đoán và lựa chọn. Không che giấu thông tin hay chỉ cung cấp những thông tin chọn lọc thiếu trung thực theo một chủ trương, một định hướng định sẵn.

Giáo dục giúp học sinh hiểu biết hoàn cảnh xã hội, môi trường sống và phương cách sống của người dân; hiểu biết lịch sử nước nhà, yêu thương xứ sở mình, biết tinh thần tranh đấu chống ngoại xâm bảo vệ tổ quốc; biết nét đẹp của quê hương xứ sở, những phẩm hạnh truyền thống của dân tộc; những phong tục tập quán có giá trị của quốc gia; tạo cho học sinh có tinh thần tự tin, tự lực, và tự lập.

Giáo dục giúp học sinh tổ chức những nhóm làm việc độc lập qua đó phát triển tinh thần cộng đồng và ý thức tập thể; phát triển óc phán đoán với tinh thần trách nhiệm và kỷ luật; tính tò mò và tinh thần khoa học; qua đó học sinh phát triển khả năng tiếp nhận những giá trị văn hóa văn minh của nhân loại.

Giáo dục giúp học sinh biết nét đẹp của quê hương xứ sở, những phẩm hạnh truyền thống của dân tộc

Nền giáo dục miền Nam không phải là một nền giáo dục thực dụng hướng nghiệp.Mà dựa trên tinh thần khai phóng và nhân bản để đào tạo những con người biết suy nghĩ độc lập và có khả năng cần thiết để có thể tham gia vào sinh hoạt xã hội với tư cách là một con người tự do và tự lập.

Nó giúp cho học sinh biết rõ bản sắc dân tộc nhưng giải phóng họ thoát khỏi những trói buộc của tinh thần nô lệ do những định kiến, những suy nghĩ hay những phương cách giải quyết vấn đề có sẵn không còn phù hợp với hoàn cảnh và thời đại.

Nói chung giáo dục miền Nam giúp học sinh năng lực cơ bản và tổng quát để khi cần có khả năng tham gia vào các sinh hoạt xã hội trong mọi tình huống và mọi ngành nghề.

Cải cách giáo dục ở Hoa Kỳ

Tác giả Hà Giang trong bài viết tháng 3/2014 trên báo Người Việt ở California viết:

“Tiêu chuẩn giảng dạy mới cho từng lớp được đặt ra với mục đích tối hậu là đào tạo được một lớp trẻ có khả năng suy luận sắc bén, nắm vững được các khái niệm tổng quát, biết cách diễn đạt và giải thích quyết định hay lựa chọn của mình, vì đây là vốn liếng cần có để chuẩn bị cho đại học, hay trở thành một nhân viên giàu khả năng.”

Trả lời phỏng vấn báo Người Việt, bà Sandra Gephart, hiệu trưởng trường trung học Arleta High School, giải thích: “Sự thay đổi này đòi hỏi chúng tôi từ giờ sẽ không còn dạy học sinh những điều phải học thuộc lòng, học sinh sẽ không được chỉ hiểu qua loa một vấn đề, một bài học, mà phải hiểu một cách thấu đáo, và áp dụng những khái niệm mình đang học vào đời sống thực tiễn.”

Ông David Nguyễn, giáo viên Toán thuộc ABC Unified School District được trích lời nói:“Chúng tôi phải dạy các học sinh cách biết nhận định, phân tích, tạo ra giả thuyết, và tự mình kiểm chứng những giả thuyết đó. Các em sẽ được đào tạo để suy nghĩ như một nhà toán học thay vì chỉ biết làm toán, để phát triển nhận thức nhạy bén nhằm phân tích những vấn đề mà sẽ phải đối diện trong thế kỷ 21.”

Thời đại đã thay đổi, nước Mỹ đang mất dần khả năng thu hút nhân tài từ khắp nơi trên thế giới.

Trọng tinh thần thực dụng và muốn tiếp tục giữ địa vị cường quốc số một trên thế giới người Mỹ đã quay lại với căn bản giáo dục khai phóng và nhân bản.

Trở về căn bản

Việt Nam Cộng Hòa là một quốc gia vừa thu hồi độc lập, nghèo, lại chiến tranh, nên nền giáo dục tại miền Nam khó có thể so sánh được với nền giáo dục tại Mỹ và các quốc gia Tây Phương.

Nhưng chính nhờ được đào tạo căn bản nên sau 30/4 năm 1975 ngay thế hệ đầu tiên nhiều người Việt đã nhanh chóng xây dựng được sự nghiệp vững chắc trên đất Mỹ hay tại các quốc gia họ định cư.

Cũng nhờ được giáo dục lấy dân tộc làm gốc, đa số người Việt cũng luôn hướng về đất nước vận động cho nhân quyền tự do và dân chủ. Họ cũng ước mong một ngày không xa sẽ mang những kiến thức tân tiến và thực tiễn về phụng sự dân tộc.

Từ kết quả của nền giáo dục miền Nam và trong tình trạng khủng hoảng xã hội hiện nay, Việt Nam cần quay lại với triết lý giáo dục lấy dân tộc, khai phóng và nhân bản làm căn bản, để từng bước thoát khỏi khủng hoảng, đưa đất nước đi lên hòa nhập cùng văn minh nhân loại.

2/4/2014

Melbourne, Úc Đại Lợi


_______________________________

Tài Liệu Tham Khảo:

- Hà Giang, 3-2014, Nước Mỹ đổi hẳn phương pháp giáo dục phổ thông - Common Core Standards, Báo Người Việt.
- Nguyễn Quang Duy, 8-2012, 2 Tháng 9: Chạy ngược đường Độc Lập.
- Giáo dục Việt Nam Cộng hòa – Wikipedia

__._,_.___

Nghĩa trang của người Chăm, một vấn đề văn hóa

Nghĩa trang của người Chăm, một vấn đề văn hóa

  • In bài này
  • Gửi Email bài này
Thứ Sáu, 04 tháng Tư năm 2014 08:42
Tác Giả: Mặc Lâm, biên tập viên RFA, Bangkok

nghiatrang nguoi cham 1

Một đền thờ Hồi giáo người Chăm tại Xuân Lộc Đồng Nai. RFA file

Gần đây người Chăm dòng Bani dấy lên lo ngại sự mất dấu vết của những nghĩa trang mà theo phong tục họ chôn cất người chết rất sơ sài. Đã có dấu hiệu bị người Kinh lấn đất và chính quyền cũng có những biểu hiệu thiếu minh bạch về việc trưng thu đất đai của họ. Mặc Lâm phỏng vấn nhà nghiên cứu văn hóa Chăm Inra Sara để biết thêm chi tiết việc này.

Mặc Lâm: Xin anh giải thích phong tục chôn cất của người Chăm thuộc hai dòng tôn giáo Chăm Bà-la-môn và Chăm Bà-ni.

Inra Sara: Người Chăm ở Ninh Thuận và Bình Thuận hiện có hai dòng tôn giáo, tín ngưỡng chính, đó là Chăm Bà-la-môn, còn gọi là Cham Ahier và Chăm Bà-ni, còn gọi là Cham Awal, hay Hồi giáo cũ. Cho dù sinh hoạt của hai hệ tôn giáo tín ngưỡng này có sự hòa hợp rất nhuần nhị, nhưng giữa hai vẫn có các khác biệt, rõ nhất là ở việc tang chế. Nếu người Chăm Bà-la-môn hỏa táng, thì ngược lại, người Chăm Bà-ni địa táng.

Người Chăm Bà-la-môn mất đi, thi thể được chôn tạm trong nghĩa trang chung của palei. Một năm hay vài năm sau đó, người ta cải táng, xương cốt được giở lên làm đám thiêu. Trong buổi sáng hỏa thiêu, 9 miếng xương trán được giữ lại, rồi mài tròn như đồng xu và cất vào lọ nhỏ gọi là Klong.

Vài chục năm sau, khi trong dòng họ tập hợp được nhiều bộ tinh cốt như thế, người ta tổ chức Lễ nhập Kut. Kut là nghĩa trang thuộc tộc mẫu bên Chăm Bà-la-môn. Trong tối cuối cùng của cuộc lễ, 9 miếng tinh cốt của tất cả Klong được cho vào hầm mộ ở trung tâm Kut. Hầm mộ này rộng khoảng 3-4 thước vuông, vậy thôi Kut cũng chứa đến cả vạn sinh linh Chăm Bà-la-môn. Vì mỗi dòng họ mẹ có một Kut riêng, nên một palei Chăm Bà-la-môn có thể có nhiều Kut.

    Người Chăm Bà-la-môn mất đi, thi thể được chôn tạm trong nghĩa trang chung của palei. Một năm hay vài năm sau đó, người ta cải táng, xương cốt được giở lên làm đám thiêu
    Inra Sara

Người Chăm Bà-ni khác hơn, mỗi palei chỉ có một nghĩa trang duy nhất. Nghĩa trang này tiếng Chăm gọi là Ghur. Người Chăm Bà-ni chôn theo cách địa táng. Người mất trong cùng dòng tộc được chôn sát nhau ở một khu đất riêng nằm chung trong Ghur. Mỗi mộ phần được đánh dấu bằng hai hòn đá nhỏ lấy từ tự nhiên, chỉ sau này người ta mới dùng xi-măng đúc theo hình khối hay hòn đá được mài có tính mĩ thuật hơn.

Nếu Kut của người Chăm Bà-la-môn chỉ cần một sào đất cố định cũng đủ, thì Ghur Chăm Bà-ni mở rộng lớn nhất có thể. Do biến thiên lịch sử, nhiều làng Chăm Bà-ni dời đi xa, khi đó, bà con lập Ghur mới làm nơi chôn cất, còn Ghur cũ coi như xong nhiệm vụ. Thế nhưng không như Kut bên Chăm Bà-la-môn – khi người nữ cuối cùng thuộc dòng tộc đã mất thì Kut bị bỏ hoang hẳn, còn Ghur cũ của người Bà-ni vẫn còn được phụng tự. Mỗi năm người Chăm Bà-ni vẫn còn đi thăm các Ghur này tảo mộ một lần vào dịp đại lễ Ramưwan, là tháng Chín chay tịnh.

nghiatrang nguoi cham 2
Nghĩa trang (Ghur Girai Neh) của người Chăm ở Ninh Thuận. Courtesy Kiều Maily

Mặc Lâm: Vấn đề hiện nay đang xảy ra đối với người Chăm Bà-ni theo anh có nghiêm trọng hay không nếu xét về việc mất dần những Ghur vì thiếu sự bảo tồn cũng như do việc lấn đất?

Inra Sara: Đây là chuyện nghiêm trọng. Vì đó là tội xâm hại mồ mả tổ tiên, xâm phạm đến đức tin tôn giáo của một bộ phận dân tộc. Chỉ có những Ghur mới, nghĩa là Ghur đang hoạt động, khi có người chết, người ta mới mang thi hài đi chôn. Còn Ghur cũ, mỗi năm người Chăm Bà-ni chỉ tảo mộ một lần, sau đó Ghur bị bỏ lại. Bà con tin đó là khu đất linh thiêng không ai dám động tới. Mà thực sự là xưa nay chưa có vụ xâm phạm nên không ai nghĩ đến rào chắn. Nhưng sự vụ không đơn giản như bà con tưởng! Nhất là với người khác tín ngưỡng, họ đâu có tin. Đối với người khác dân tộc lại càng không tin.

    Người Chăm Bà-ni chôn theo cách địa táng. Người mất trong cùng dòng tộc được chôn sát nhau ở một khu đất riêng nằm chung trong Ghur. Mỗi mộ phần được đánh dấu bằng hai hòn đá nhỏ lấy từ tự nhiên
    Inra Sara

Vì Ghur Bà-ni chỉ được đánh dấu bằng những dãy cặp hòn đá khá nhỏ, lâu ngày đất cát vùi lấp dễ mất dấu vết. Từ đó nhiều người thấy đất trống tưởng không có gì, cứ lấn chiếm đất Ghur làm vườn, xây nhà ở. Dĩ nhiên, trong đó có người biết mà vẫn cố ý làm. Nói chi người dân, ngay chính quyền cũng từng làm như thế mà.

Mặc Lâm: Vai trò của chính quyền trong vấn đề này như thế nào, sự lơ là hay tiếp tay của họ có rõ ràng và cụ thể hay không?

Inra Sara: Ở trên tôi nói chính quyền còn làm thế là có chứng cớ. Con đường từ Ninh Chữ xuống Vĩnh Hi chạy băng qua và cắt Ghur Girai Neh làm hai. Tại sao, không ai biết vì sao cả. Ghur này ở trong khu vực thôn Khánh Nhơn, huyện Ninh Hải nằm sát biển, vốn thuộc hạng cổ và đẹp nhất trong các Ghur Chăm. Sau đó, mỗi năm Ghur đều có dấu vết xâm lấn. Thời Pháp cũng không khác mấy, Ghur Kađuk ở Hộ Diêm thuộc xã Hộ Hải, huyện Ninh Hải bị san phẳng mà không cần thông qua ý kiến bà con Chăm.

Còn chính quyền hiện tại, có hay không việc “lơ là hoặc tiếp tay cho người dân xâm hại” đất Ghur thì chưa ai biết được cụ thể thế nào. Theo tôi, sự thể cũng do lỗi ở người Chăm ỷ y mà ra. Bà con biết có xâm hại, và xâm hại nhiều lần, nhưng không có ai lên tiếng, và lên tiếng tới nơi tới chốn cả. Từ tâm lí mẹ chung không ai khóc dễ đẩy sự vụ đến chỗ nguy hiểm. Đã có vài xung đột lẻ tẻ rồi. Nếu không xử lí kịp thời, e xảy ra sự cố lớn thì khó mà chữa chạy kịp.

Chuyện nhỏ lẻ mang tính tranh chấp địa phương làng xóm qua đó sẽ được đẩy lên hàng mâu thuẫn dân tộc, là điều nhỡn tiền. Các cán bộ là người Chăm ở Tỉnh, Huyện không thấy trước nguy cơ này mới lạ.

Mặc Lâm: Hội đồng chức sắc thôn và trí thức Chăm có được chính quyền công nhận là một thực thể giá trị trong cộng đồng hay không và nếu có sự tiếp tay vận động của họ thì kết quả sẽ ra sao?

    Vì Ghur Bà-ni chỉ được đánh dấu bằng những dãy cặp hòn đá khá nhỏ, lâu ngày đất cát vùi lấp dễ mất dấu vết. Từ đó nhiều người thấy đất trống tưởng không có gì, cứ lấn chiếm đất Ghur làm vườn, xây nhà ở. Dĩ nhiên, trong đó có người biết mà vẫn cố ý làm. Nói chi người dân, ngay chính quyền cũng từng làm như thế mà
    Inra Sara

Inra Sara: Có, chứ không phải không! Nếu các vị không sợ hãi, sợ cái điều không đáng sợ. Tôi từng nói, nếu các cán bộ địa phương, các trí thức và các vị chức sắc trong làng, vì Ghur Chăm chỉ thuộc phạm vi palei, đứng ra làm, quyết tâm làm, là họ đang giúp Nhà nước ngăn ngừa cái xấu về tương lai. Việc gì phải sợ cơ chứ.

Khi ta dám nói, dám làm; nói cụ thể hơn ở đây là, nếu ta quyết làm cho xong Sổ đỏ, cái Giấy chứng nhận sử dụng đất đó mà, nếu ta đứng lên huy động tiền bạc để rào lại khu đất thuộc sở hữu của ta (như nhiều Kut Chăm Bà-la-môn đã giải quyết như thế, và giải quyết rất ổn thỏa), thì không có cấp chính quyền nào cấm cản ta cả. Còn phần đất bị hộ cá thể nào đó lấn chiếm, ta cứ làm đơn trình. Trong lộ trình đơn thư này, việc chính quyền có “lơ là hoặc tiếp tay cho người dân xâm hại đất Ghur” như anh đặt ra ở trên hay không, thì biết ngay thôi.

Theo tôi, không có chính quyền nào dại dột đi bênh vực cá thể nào đó vi phạm thuần phong mĩ tục một dân tộc cả. Làm thế khác gì đi bao che cái xấu, là bênh vực cá nhân tham lam, mà gây mất lòng cả một tập thể. Còn hơn thế, hành động thế là gây mất đoàn kết dân tộc – điều mà lâu nay Nhà nước Việt Nam rất ngại.

Mặc Lâm: Theo chúng tôi được biết thì giờ này anh đang ở làng Phước Nhơn, điểm nóng diễn ra sự việc mà chúng ta đang bàn đến. Xin anh cho biết công việc đã giải quyết tới đâu rồi, thưa anh?

Inra Sara: Về sự xâm phạm Ghur Chăm Bà-ni, tôi đã nhiều lần đi thực địa, chẳng những ở Ninh Thuận mà cả Bình Thuận. Tháng 7 năm ngoái, tôi có mở cuộc thảo luận về Chuyên đề này trên Inrasara.com, đầu tháng 3 năm nay, tôi mở cuộc thảo luận lần hai. Qua hai cuộc thảo luận, tôi nhận được nhiều phản hồi quý giá.

Còn lúc này, cũng xin báo tin vui với anh, hôm qua Hội đồng Sư cả Bà-ni và vài trí thức Chăm palei Phước Nhơn Pabblap đang có đơn thư lên Thường vụ Tỉnh, cạnh đó họ còn thảo Bức Tâm thư gửi các Mạnh thường quân xin tài trợ để công việc tiến hành sớm. Dĩ nhiên, mấy năm trước, tôi cũng đã nhiều lần nghe bà con làm thế, nhưng rồi chẳng đi tới đâu cả.

Mặc Lâm: Xin cám ơn anh.


Đầu tư vào Cuba, con đường đầy chông gai

Đầu tư vào Cuba, con đường đầy chông gai

  • In bài này
  • Gửi Email bài này
Thứ Bảy, 05 tháng Tư năm 2014 08:03
Tác Giả: Đức Tâm

cuba investissement


Đoạn đường sắt sắp tới đang được thi công, như một phần của dự án cảng Mariel, do Brazil tài trợ. Ảnh chụp ngày 28/03/2014.
REUTERS/Jorge Luis Banos


Cuối tháng Ba vừa qua, chính quyền Cuba đã thông qua Luật đầu tư nước ngoài và được đánh giá có vai trò cực kỳ quan trọng đối với nền kinh tế nước này.
Thế nhưng, văn bản này phải đối mặt với rất nhiều trở ngại to lớn, đặc biệt là lệnh cấm vận của Hoa Kỳ được áp dụng từ nửa thế kỷ qua.

Trước Quốc hội, ông Rodrigo Malierca, Bộ trưởng Cuba phụ trách ngoại thương và đầu tư nước ngoài, thừa nhận :
 « Hiện còn tồn tại các trở ngại ngăn cản và hạn chế sự tham gia của đầu tư nước ngoài vào nền kinh tế của chúng ta » và vị Bộ trưởng này liệt kê ra các thách thức : « Phong tỏa kinh tế, thương mại và tài chính do chính phủ Hoa Kỳ áp đặt, tình hình nợ nước ngoài, các sai lầm của quá khứ trong lĩnh vực đầu tư và những khó khăn, hạn chế do thiếu ngoại tệ ».

Hầu như chính quyền La Habana ngày nào cũng tố cáo chính sách cấm vận của Mỹ, được áp dụng từ năm 1962.
 Trong mỗi kỳ hợp hàng năm của Đại hội đồng Liên Hiệp Quốc, đa số các thành viên đều lên án biện pháp này của Washington.

Thế nhưng, lệnh cấm vận Cuba lại ngày càng được củng cố trong luật pháp Hoa Kỳ, kể từ khi Quốc hội lưỡng việc Mỹ thông qua Đạo luật Torricelli, tên của dân biểu Robert Torricelli, hay còn gọi là Đạo luật về nền dân chủ Cuba, năm 1992 và Đạo luật Helms – Burton, tên của Thượng nghị sĩ Jesse Helms và dân biểu Dan Burton, còn gọi là Đạo luật về Tự do và Dân chủ liên đới Cuba, năm 1996.

Theo lệnh cấm vận, các công dân Mỹ và Cuba sinh sống tại Mỹ không được phép đầu tư vào Cuba, các chi nhánh công ty Mỹ hoặc các doanh nghiệp nước ngoài hiện diện tại Hoa Kỳ, sẽ bị trừng phạt nếu làm ăn với Cuba.

Ông Arturo Lopez-Levy, giảng dạy tại đại học Denver, Hoa Kỳ, nói với AFP là Tổng thống Mỹ Barack Obama có quyền « cấp các giấy phép cho những doanh nghiệp, doanh nhân Cuba-Mỹ, đầu tư và thúc đẩy khu vực kinh tế tư nhân đang hình thành tại Cuba ».

Hiện đã có một số ngoại lệ được áp dụng trong thương mại giữa Mỹ và Cuba, dưới sức ép của các nhóm vận động hành lang có thế lực trong lĩnh vực chế biến nông phẩm Mỹ.
Trong khi đó, ngày càng có nhiều người Cuba lưu vong tại Mỹ muốn đầu tư vào Cuba, nhất là trong ngành sản xuất đường.

Ông Esteban Morales, giảng viên trường đại học La Habana nhấn mạnh : « Chính phủ Mỹ cần phải suy nghĩ nghiêm túc về vấn đề này, bởi vì Cuba là một thị trường mà một số người Mỹ rất mong muốn chiếm lĩnh ».

Trở ngại lớn thứ hai là nợ nước ngoài hiện nay chiếm một tỷ lệ lớn trong ngân sách Cuba.
 Theo số liệu chính thức, nợ nước ngoài của Cuba lên tới 13,5 tỷ đô la trong năm 2010.
Trong thời gian qua, Cuba đã được một số nước như Nga, Nhật Bản, Mêhicô xóa bớt một phần nợ.

Nếu như Bộ trưởng Ngoại thương và đầu tư nước ngoài của Cuba không nêu cụ thể những sai lầm trong quá khứ, thì ông Arturo Lopez-Levy nhắc lại rằng luật đầu tư nước ngoài năm 1995 đã có nhiều chỗ gây nghẽn tắc.
Ông bình luận : « Luật năm 1995 chưa bao giờ được áp dụng một cách đầy đủ do sự trì trệ của một bộ phận trong chính quyền và có nhiều nghẽn tắc ».
Một trong những nghẽn tắc này là việc cho phép doanh nghiệp có 100% vốn nước ngoài được hoạt động tại Cuba.
Luật đầu tư mới vẫn mở ra khả năng này, nhưng tất cả các doanh nghiệp nước ngoài tại Cuba đều liên kết tiến hành lập xí nghiệp liên doanh trong đó các doanh nghiệp Nhà nước Cuba chiếm đa số vốn.

Bên cạnh những vấn đề nói trên, Cuba còn phải đuơng đầu với một khó khăn khác, đó là việc tuyển dụng nhân viên.

Cũng giống như trong quá khứ, các doanh nghiệp nước ngoài vẫn phải thông qua một cơ quan phụ trách việc làm của Nhà nước Cuba để tuyển dụng, và do vậy, không thể quản lý trực tiếp nhân viên của mình.

Theo ông Esteban Morales, « Lẽ ra, cần phải loại bỏ biện pháp này. Bởi vì nó đi ngược lại các quyền của người lao động, hạn chế năng suất lao động và việc quản lý doanh nghiệp một cách lành mạnh ».

Cuối cùng, ông Arturo Lopez-Levy lấy làm tiếc là luật mới về đầu tư nước ngoài đã không chú ý tới các khoản đầu tư thông qua kiều hối, lên tới 2,6 tỷ đô la hàng năm. Đây là nguồn thu ngoại tệ đứng hàng thứ hai của Cuba, ngang bằng với nguồn thu đến từ lĩnh vực du lịch.

Nguồn kiều hối đổ chủ yếu vào lĩnh vực tư nhân đang hình thành, hiện sử dụng hơn 450000 lao động (khu vực công sử dụng tới 4 triệu nhân viên), nhưng lại nằm ngoài khuôn khổ luật pháp.

Đáng lý ra, các đầu tư đến từ kiều hối phải được hưởng những ưu đãi và khuyến khích, đặc biệt trong lĩnh vực thuế khóa, bởi vì các đầu tư này tạo ra những tác động xã hội tích cực.

Ông Lopez-Levy nhấn mạnh, để quản lý kiều hối, chỉ cần một cải cách kinh tế đơn giản : Xác định khuôn khổ pháp lý cho việc kết hợp làm ăn giữa người Cuba trong nước và ngoài nước. Thế nhưng công việc này lại bị trì hoãn một cách khó hiểu.
==

My Blog List