From: "Tran Ho Date: July 8, 2014 at 3:12:00 PM EDT To: undisclosed recipients: ; Subject:[VN-TD] VNCH có đất có nhà, chế độ CS cướp đất cướp
nhà!" Reply-To:VN-TD
On Tuesday, July 8, 2014 1:42 PM, Dacsongphuong Nguyen <>
wrote:
Người dân Đã nhận ra sự thật....sống với VNCH có nhà, CS chỉ cướp của dân ...mà thôi
!!!! Dân ..hết SỢ... rồi.
Vụ việc xảy ra
vào hôm 2/7/2014, lực lượng an ninh cùng các ban ngành đến khu đất của
bà Mai Thị Kim Hương (Khu phố 3, thị trấn Thạnh Hoá, huyện Thạnh Hóa,
tỉnh Long An) nhằm yêu cầu tháo dỡ các biểu ngữ có nội dung phản đối
cướp đất.
Hành vi cướp đất trắng trợn của nhiều quan chức huyện Thạnh Hóa và tỉnh
Long An khiến sự phẫn uất của người dân bị đẩy lên cao trào. Đoạn clip
cho thấy một phụ nữ liên tục lớn tiếng: "Đi ra ngoải đánh Trung
Quốc mà lấy đất lại đi..., rồi về đây mà lấy đất tao", "Đừng
có hèn với giặc, ác với dân"
Một người đàn ông tỏ ra gay gắt nói với đoàn cán bộ: "Sống
chung với Việt Nam Cộng Hòa mà có đất có nhà. Còn sống với chế độ cộng
sản này bị cướp đất cướp cướp nhà. Việt Nam Cộng Hòa người ta đâu có
cướp đất cướp nhà. Còn chế độ cộng sản này cướp đất cướp nhà là
sao?"
Theo chị Phùng Thị Ly, thành viên Phong trào Liên đới Dân oan Đấu tranh
Việt Nam cho biết: Vào năm 2009, UBND huyện Thạnh Hóa thu hồi đất đễ
làm bờ kè và chỉnh trang đô thị. Khu vực nhà và đất nằm ở vị trí đối
diện chợ, nhưng chủ tich UBND huyện cùng tỉnh Long An lại ban hành
quyết định bồi thường đất nhà ở này 'thuộc vị trí tiếp giáp đề bao
chống lũ', đây là thủ đoạn để áp đặt giá bồi thường rẻ mạt là 300 ngàn
VNĐ trên một mét vuông, trong khi giá đất thực tế gấp hàng chục lần.
Căn nhà nhà bà Hương có diện tích 120 mét vuông, nhưng chỉ được bồi
thường 75 mét vuôn. Phần diện tích còn lại thậm chí không được bồi
thường mà còn bị UBND huyện vu cho 'lấn chiếm đất công', đồng thời ban
hành quyết định xử phạt hành chính và quyết định cưỡng chế.
Trước đó, ngôi nhà này đã bị cưỡng chế vào năm 2010, nhưng gia đình bà
Hương không đồng ý giao đất và tiếp tục đấu tranh bằng cách che mấy tấm
tôn để ở. Sắp tới, giới chức địa phương sẽ tiếp tục thực hiện cưỡng chế
lần hai đối với gia đình bà Hương.
Phố thịt chó Nhật Tân
đóng cửa vì quả báo sát sinh
Phố thịt chó Nhật Tân (Hà Nội), với 50 nhà hàng, tấp nập khách nhậu
ngày đêm giờ chỉ còn duy nhất một nhà hàng hoạt động cầm chừng vì vắng khách.
Vì sao thương hiệu thịt chó Nhật Tân biến mất là câu hỏi nhiều người quan tâm.
Tôi vòng đi vòng lại mấy lần phố Nhật Tân, tìm quán thịt chó Trần Mục, nơi mà
dân nhậu Hà thành không ai không biết, vì nó là thương hiệu quá nổi tiếng,
nhưng không thấy đâu cả.
Hỏi chị bán hàng nước, chị chỉ ngôi nhà ngay cạnh bảo: “Trần Mục thịt chó đây anh này”.
Đó là ngôi nhà 2 tầng với vách tôn, mái tôn, cổng rả đóng kín, bụi
phủ trắng nhợt, thậm chí cỏ mọc thành bụi từ những kẽ nứt trước nhà. Chị bán hàng
nước bảo: “Cả phố Nhật
Tân chỉ còn mỗi quán Anh Tú Béo thôi, không có quán nào khác cho anh lựa chọn
nữa đâu”.
Phố Nhật Tân giờ không còn thịt chó
Tôi hỏi lý do vì sao quán thịt chó Trần Mục quá nổi tiếng, mà lại đóng
cửa, chị bán nước bảo: “Mấy
chục quán thịt chó ở đây đều phá sản hết anh ạ. Dù họ giàu có cỡ nào, nhưng làm
công việc sát sinh, mà lại giết hại con vật nuôi yêu quý của con người, nên đều
không có kết cục tốt. Bà Xìu chủ quán Trần Mục chuyển nghề rồi, giờ buôn bán
bất động sản”.
Chị chủ quán nước chỉ tòa nhà màu vàng bên kia đường và bảo đó
chính là nhà bà Nguyễn
Thị Xìu, vốn là chủ quán thịt chó Trần Mục.
Tòa nhà lớn ngay mặt đê quả là trụ sở một doanh nghiệp, chuyên môi
giới bất động sản.
Người đàn bà độ ngoài 60 tuổi, dáng vẻ chậm rãi, khuôn mặt phúc
hậu, miệng hay cười tiếp đón niềm nở. Bà vồn vã mời tôi vào phòng khách, pha nước,
mà không hỏi là ai, đến có việc gì, như phần lớn gia chủ khác khi có khách lạ
đến gặp. Đó chính là tính cách thân thiện của người Hà Nội gốc.
Khi tôi hỏi chuyện vì sao thương hiệu thịt chó Nhật Tân biến mất,
bà Nguyễn Thị Xìu
không vào ngay chuyện. Bà nhớ lại một thời vàng son của Trần Mục quán,
cùng phố thịt chó Nhật
Tân thơm lừng thịt chó, mắm tôm.
Quán thịt chó Trần Mục đóng cửa mấy năm nay
Theo bà Xìu,
thịt chó Trần Mục
chính là quán đầu tiên của phố Nhật
Tân. Vào khoảng đầu những năm 90 của thế kỷ trước, khi đó, vùng
đất ngoài đê sông Hồng
còn hoang vu, cỏ cây lau lách, dân cư thưa thớt. Chồng bà, ông Trần Mục đã cắm
một mảnh đất ven đê, dựng mái lều tranh, viết tên mình gắn với món thịt chó lên
cái mẹt, rồi cắm triền đê. Không ngờ, quán lá ven sông giữa bốn bề lau lách,
lại hấp dẫn thực khách đến vậy.
Khách tìm đến quán thịt chó Trần
Mục ngày càng đông. Người Hà Nội tìm ta tận ngoại thành để
hưởng hương đồng gió nội. Khách tỉnh xa qua cầu Thăng Long cũng dừng lại triền đê
thưởng thức thịt chó Trần
Mục, hít thở gió sông Hồng.
Công việc kinh doanh ngày càng phát đạt, nên ông Trần Mục phá căn
lều nhỏ, dựng ngôi nhà hai tầng, rộng mấy trăm mét vuông.
Thời vàng son kéo dài suốt hai chục năm. Mỗi ngày quán Trần Mục đón 600
– 1.000 thực khách. Ông Mục
phải thuê tới 50 nhân viên, làm việc từ 4h sáng đến 23 giờ đêm để phục vụ
khách.
Để có thể đáp ứng nhu cầu thực khách, mỗi ngày quán giết mổ từ 100
đến 150 con chó.
Gia đình bà Xìu chuyển sang làm những nghề khác
Bà Xìu
nhớ lại: “Quán Trần Mục
đông đến nỗi, nhà hàng rộng vậy mà không đáp ứng nổi. Những ngày cuối tháng,
quán chỉ nhận phục vụ những khách đặt trước. Chuông điện thoại đặt hàng reo inh
ỏi suốt ngày, đến nỗi tôi phải rút điện thoại ra, để khỏi phải nghe nữa”.
Thấy nhà hàng
Trần Mục quá đông khách, kiếm bộn tiền, hàng loạt nhà hàng thịt
chó dọc con đê mọc lên. Thời cao điểm, vào năm 1995 đến 2005, khu vực ngoài đê Nhật Tân có tới 50
quán thịt chó.
Cứ chiều xuống, con phố lại chìm trong làn khói mờ ảo của những lò
thui chó, những xiên chả nướng chó. Nhưng đó là chuyện của vài năm trước. Giờ
thì cả con đê Nhật
Tân, chỉ còn lại mỗi quán Anh Tú Béo.
Tôi cắt ngang hồi tưởng của bà Xìu bằng câu hỏi: “Nghe đồn bà đóng cửa quán vì sợ
sát sinh loài vật thân thiết với con người?”. Bà Xìu bảo, bà không
tin vào chuyện mê tín, nhưng chuyện bà đóng cửa quán, nghỉ bán thịt chó, cũng
có phần lớn là vì nỗi sợ hãi vô hình đó.
Theo lời bà Xìu,
chính chồng bà, ông Trần
Mục là người gây dựng nên thương hiệu thịt chó Trần Mục nói riêng
và thịt chó Nhật Tân
nói chung, tuy nhiên, khi quán hoạt động được vài năm, đúng lúc thịnh vượng,
thì ông Mục
đòi đóng cửa quán, không làm công việc sát sinh này nữa.
Quán thịt chó Trần Mục giờ phủ bụi, cỏ mọc
Ông Mục
bảo rằng, không ai làm giàu nhờ sát sinh được, nhất là làm giàu trên sự chết
chóc của loài chó. Tuy nhiên, khi đó, việc kinh doanh thịt chó đang rất thịnh
vượng, mang lại tiền bạc như nước, nên bà Xìu không chấp nhận đóng cửa quán.
Không thuyết phục được vợ, ông Mục bỏ mặc quán cho vợ quản lý, còn ở
nhà trông cháu, chăm sóc cây cối vui tuổi già. Mình bà Xìu phải vật lộn
với việc quản lý quán thịt chó. Bà phải tự tay pha chế thịt chó mới đảm bảo
chất lượng.
Nghe chồng nói nhiều về chuyện không có hậu trong nghề kinh doanh
thịt chó, rồi bà chứng kiến nhiều người làm nghề giết mổ và đón nhận kết cục không
tốt đẹp, nên bà Xìu
cũng hoang mang.
Thịt chó Trần Mục nổi tiếng một thời. Ảnh: Tiến Dũng
Bà không dám tự tay giết chó nữa, mà sai nhân viên làm việc đó. Để
giải bớt nghiệp cho mình và gia đình, bà Xìu
đi lễ rất nhiều nơi. Mỗi năm, bà đi hàng chục ngôi chùa, cúng lễ rất chu đáo,
đốt vô số vàng mã cúng cho linh hồn loài chó. Bà Xìu tin rằng, do
bà đi lễ cẩn trọng, nên đại gia đình bà mới không ảnh hưởng gì.
Tuy nhiên, những điều xảy đến với sức khỏe, khiến bà cũng phải bận
tâm suy nghĩ. Mấy năm trước, dù hàng loạt quán thịt chó ở Nhật Tân đã đóng
cửa, song quán Trần
Mục có thương hiệu, nên vẫn rất đông khách.
Đúng thời điểm đó thì bà mắc nhiều thứ bệnh như cao huyết áp,
thoái hóa các khớp khiến bà không đi nổi, đôi mắt cứ mờ dần phải tiến hành mổ
gấp mới không bị mù… Thời điểm đó hầu như tháng nào bà cũng phải đi viện vài
lần.
Nỗi sợ hãi về việc sát sinh loài chó đã nhen nhóm xuất hiện trong
đầu bà và đại gia đình. Chồng, con ra sức ngăn cản bà, yêu cầu bà đóng cửa quán
thịt chó. Nhưng chỉ đến khi ngã gãy tay, phải bó bột, không tự tay pha chế được
thịt chó nữa, bà mới sực tỉnh, sợ hãi thực sự.
Cái lần ngã rất nhẹ mà gãy tay, đã khiến bà suy nghĩ nhiều, rồi
quyết định đóng cửa thương hiệu thịt chó Trần
Mục nổi tiếng, mà không một chút lưu luyến nào nữa.
Phố thịt chó biến mấ
Như đã nói ở kỳ trước (phần trên), bà
Nguyễn Thị Xìu, chủ quán chó Trần Mục nổi tiếng nhất Hà Nội, dù đang lúc ăn nên
làm ra, vẫn quyết định đóng cửa quán, bởi những lo âu hư hư thực thực.
Theo bà Xìu, những người con của bà đều không theo nghiệp kinh doanh thịt chó,
mà làm những lĩnh vực khác. Bà không tin vào chuyện đen đủi do sát hại chó,
nhưng có một điều bà nhận thấy, là nhiều gia đình trở nên lục đục, không có hậu
khi làm nghề này.
Nỗi sợ hãi nghề sát sinh loài vật thân thiết với con người sẽ không có hậu bao
trùm các gia đình kinh doanh thịt chó ở Nhật Tân, nên hễ nhà nào làm ăn khá
giả, có đủ vốn, là họ đóng cửa quán, đi làm thứ khác.
Rời nhà bà Xìu, tôi tạt vào quán nước của bà Minh, cách quán thịt chó Anh Tú
Béo không xa. Quả thực, những bà chủ quán nước là cái túi đựng thông tin kiểu
truyền miệng quanh vùng.
Quán thịt chó Trần Mục
đóng cửa mấy năm nay
Bà Minh khoe rằng, bà đã bán hàng nước ở con phố thịt chó này được ngót 20 năm,
từ khi quán Trần Mục và Anh Tú Béo mở ra, rồi cả đoạn đê thành phố thịt chó. Giờ
các quán đã phá sản, đóng cửa hàng loạt, chỉ còn mỗi quán Anh Tú Béo vắng teo
khách, bà vẫn kiên trì ngồi bán hàng nước, dù khách chẳng còn mấy. Quán thịt chó
đóng cửa sạch sẽ, khách không đến nữa, thu nhập của bà cũng giảm.
Tôi hỏi: “Bác có biết vì sao các quán thịt chó ở Nhật Tân đóng cửa hết không ạ?”.
Bà Minh oang oang: “Trời ạ, làm cái nghề giết chóc ghê rợn ấy thì làm sao mà có
hậu được hả cậu? Mấy gia đình kinh doanh thịt chó không gặp chuyện nọ, thì cũng
vướng chuyện kia. Dù họ có nhiều tiền như nước thì cuối cùng cũng hết sạch
thôi. Của thiên trả địa mà. Cũng có nhiều gia đình giàu lên nhanh chóng, nhưng
lục đục lắm, vợ chồng đánh lộn, con cái hư hỏng cả”.
Bà Minh bấm đốt ngón tay từng gia đình kinh doanh thịt chó, như ông M., bà K.,
anh V., chị H… Mỗi gia đình bà đều kể vanh vách từ khi mở quán, ăn nên làm ra
hay phá sản, đóng cửa ra sao.
Bên trong quán thịt chó
Trần Mục đã một thời đông nghịt thực khác
Trong mấy chục gia đình kinh doanh thịt chó không có hậu, tôi ấn tượng với câu
chuyện về ông S., chủ quán thịt chó A.X. một thời làm ăn thịnh vượng ở phố Nhật
Tân.
Nếu so về thương hiệu, thâm niên, thì quán thịt chó A.X. không nổi tiếng bằng
Trần Mục và Anh Tú Béo.
Ông chủ quán là người làng Trung Hòa, trước kinh doanh cá sông, gà đồi. Thấy
mấy nhà hàng thịt chó ở Nhật Tân phục vụ khách không xuể, ông này đóng cửa nhà
hàng ở Trung Hòa, thuê địa điểm rồi mở quán thịt chó ở Nhật Tân.
Do có kinh nghiệm chế biến thịt chó, địa điểm quán lại đẹp, nên quán thịt chó
A.X. nhanh chóng thu hút thực khách, làm giàu nhanh chóng. Ông này thuê tiếp
địa điểm và mở quán thứ hai cũng với thương hiệu đó.
Tuy nhiên, đúng lúc công việc kinh doanh thịt chó phất lên, thì vận rủi liên
tiếp đổ xuống gia đình ông. Đầu tiên là chuyện xảy ra với người con trai lớn
của ông, là người ông hướng theo nghề, tiếp tục nối nghiệp cha quản lý, kinh
doanh thịt chó.
Để có chó xịn, thịt ngon, nhiều khi anh này phải lên tận Phú Thọ, Sơn La để
chọn chó từ những lái buôn. Những con chó được làm thịt chỉ là chó dé, lông
vàng, nặng trên dưới 10kg, sống ở vùng trung du, miền núi phía Bắc.
Thịt loài chó này nạc, ngọt, mềm, thơm. Chính sự cầu kỳ đó mà quán A.X., sinh
sau đẻ muộn, song lại hút khách không kém.
Vào năm 2000, khi người con trai của ông chủ này đang tóm con chó từ lồng ra để
đập chết, làm thịt, thì vô tình bị con chó này cắn vào tay. Vết cắn xước nhẹ
nên anh này chẳng thèm để tâm.
Chuyện nhân viên giết mổ chó bị chó cắn thường ngày, chẳng ai đi tiêm phòng.
Thế nhưng, thật đen đủi, khi con chó cắn anh ta lại là chó dại.
Chừng tháng sau, anh này lên cơn, sùi bọt mép và chết trong bệnh viện nổi tiếng
ở Singapore. Dù ông bố đã đổ ra cả đống tiền, đưa con ra nước ngoài điều trị,
song vẫn không cứu được con.
Vận hạn tiếp theo đổ lên gia đình ông, là bà vợ bị tai biến, nằm liệt. Mặc dù
chuyện bệnh tật là đen đủi, vận hạn, nhưng nghe nhiều người can dán, ông đã
đóng cửa vĩnh viễn cả 2 quán thịt chó A.X ở Nhật Tân. Bao năm nay, ông chủ quán
thịt chó A.X. thay vì giết chó, thì chú tâm đi chùa, giải nghiệp.
Cũng theo bà chủ quán nước tên Minh, thì rất nhiều gia đình kinh doanh thịt chó
ở đây không có hậu. Phần lớn là phá sản, thất bại về tiền bạc.
Có gia đình con cái dính vào lô đề, cá cược, cờ bạc, nghiện ngập, nên dù làm ra
bạc tỉ cũng trắng tay. Nhiều gia đình bỏ xứ trốn đi nơi khác vì bị bọn giang hồ
tróc nợ.
Có gia đình cũng vì nỗi sợ hãi nghiệp sát sinh, như ông G., bà D., đã đóng cửa
quán, rồi đầu tư vào bất động sản. Tuy nhiên, mấy năm nay đất cát xuống giá
thảm hại, nên không những họ đều trắng tay, mà thành con nợ.
Bà Nguyễn Thị Xìu, chủ thương hiệu thịt chó Trần Mục cũng bảo: “Dù tôi nghỉ đã
mấy năm nay, nhưng vẫn thường xuyên nhận điện thoại đặt hàng của khách. Kinh
doanh thịt chó rất có lãi, nên dù ít khách hơn xưa, nhưng chắc chắn không lỗ
được. Tuy nhiên, ai cũng sợ hãi nghiệp báo sát sinh nên không dám tiếp tục kinh
doanh thịt chó nữa”.
Như vậy đã rõ, vì nỗi sợ hãi vô hình, liên quan đến nghiệp báo, sát sinh trong
thuyết giáo nhà Phật, mà mấy chục quán thịt chó Nhật Tân bỗng dưng biến mất.
(VTC 14)
BÀI ĐỌC THÊM:
GIẢI MÃ LÀNG THỊT CHÓ
KHÔNG AI DÁM GIẾT CHÓ
Nguyệt My (Phóng sự điều tra của Đài
Truyền Hình Cáp VTC News
(VTC News) - Họ sợ hãi cái thuyết nhân
quả, gánh nghiệp sát sinh, nên không ai dám mổ chó nữa.
Ông thủ từ Hồ Xuân Đức, người
trông coi, hương khói đền Giang Xá ở đầu làng Cao Hạ (xã Đức Giang, Hoài Đức,
Hà Nội) bảo rằng: “Nói chuyện này cậu không tin, nhưng có một thực tế là ở làng
Cao Hạ không có ai dám cầm chày đập chết con chó, cầm dao chọc tiết nó đâu.
Cùng lắm họ chỉ dám thui chó, mổ bụng, làm lòng, khi thợ đã giết chó rồi. (Ảnh:
Làng Cao Hạ)
Ngày
xưa, việc giết chó tự tay người Cao Hạ làm, nhưng nhiều chuyện xảy ra lắm, nên
không ai dám làm cái việc sát sinh ấy nữa. Nhưng đất chật, người đông, không mổ
chó thì lấy gì mà sống, nên họ vẫn phải duy trì lò mổ. Có điều, họ không trực
tiếp giết chó, mà thuê thợ giết mổ từ nơi khác về.
Người
dân làng Cao Hạ trả công vài trăm ngàn mỗi ngày nên thuê được rất nhiều thợ. Mà
với số tiền hậu hĩnh như vậy, thì nhiều người dám cầm chày đập con chó, cầm dao
chọc cổ nó”.
Nghe
ông Đức nói vậy, tôi không tin lắm, nhưng quả thực, đến các lò mổ ở Cao Hạ, từ
lò mổ lớn, đến bé, song không có bất cứ thợ giết mổ nào là người Cao Hạ.
Thợ
mổ đều được thuê từ các tỉnh khác như Thái Bình, Thanh Hóa, Vĩnh Phúc... Đông
nhất vẫn là người Thanh Hóa. Ở Đông Sơn (Thanh Hóa), có một ngôi làng, mà cả
làng đi buôn chó xuyên quốc gia và đi giết mổ chó mướn ở khắp nơi. Người nọ rủ
người kia, nên có đến mấy chục thợ ở Đông Sơn hành nghề giết chó thuê ở Cao Hạ.
Lang
thang tìm hiểu ở làng mổ chó Cao Hạ, tôi được nghe người dân kể rằng, người Cao
Hạ đi đến đâu cũng bị chó sủa, chó cắn. Mặc dù ngôi làng đang yên tĩnh ban
trưa, nhưng người Cao Hạ đi qua, là chó sủa dậy làng. Người ta đồn rằng, người
Cao Hạ là khắc tinh của loài chó, mà chó là loài rất thính nhạy, nên cảm nhận
được.
Trong
thời gian tìm hiểu về nghề giết mổ chó ở làng Cao Hạ, tạt vào chùa Cao Hạ, tôi
thấy người vào ra nườm nượp, khói hương nghi ngút, vàng mã khắp nơi. Vàng mã đủ
hình 12 con giáp, gồm trâu, chó, ngựa, dê, rồng, chuột…
Tôi
nhận ra bà D., một chủ lò mổ chó lớn nhất nhì làng Cao Hạ. Bà D. tuy đã 56
tuổi, nhưng ăn mặc khá thời thượng, ra dáng một bà chủ lớn. Bà có một tòa biệt
thự ở trong làng, cùng một nhà nghỉ Hà Nội. Tất cả gia sản đó đều từ con chó mà
ra.
Cũng
như những gia đình khác ở Cao Hạ, bà D. rất sợ gặp vận rủi với nghề sát sinh.
Mỗi năm, vào những ngày rằm, mùng 1, ngày lễ, bà đều chuẩn bị lễ lạt chu đáo
rồi cúng tế hàng giờ ở chùa Cao Hạ.
Người
cúng giải hạn cho bà D. chính là thầy Thích Thanh Thủy, trụ trì chùa Cao Hạ.
Tôi tiếp chuyện, nhưng bà từ chối cung cấp thông tin. Hầu hết người dân ở làng
Cao Hạ đều không muốn nói về công việc sát sinh của mình.
Bản
thân bà, dù đã giàu có lắm rồi, nhưng nỗi mất mát còn lớn hơn. Người chồng đầu
ấp tay gối đã chết vì nghiệp giết chó. Con cái phương trưởng, làm các nghề
khác, không theo nghề mổ chó.
Bao
năm nay, bà sống cô đơn một mình trong tòa biệt thự, nhưng buồn vô hạn. Bà đang
sống trong khổ đau, dằn vặt, vì bà tin rằng, trăm ngàn kiếp nữa, bà phải chịu
quả đau đớn, vì đã sát hại hàng vạn con chó.
Dù
bà D. không tiết lộ chuyện gia đình mình, song cái chết của ông K., chồng bà,
thì cả làng Cao Hạ đều biết.
Theo
đó, nghề mổ chó đã có từ đời ông nội của bà. Ông nội của bà cũng chính là một
trong số ông tổ của nghề giết mổ chó làng Cao Hạ.
Khi
đó, gia đình nghèo, ông nội bà phải lang thang khắp nơi, học nhiều nghề. Cuối
cùng, ông học được nghề giết mổ chó từ một chủ lò mổ ở Bắc Ninh. Ông cụ đã mang
nghề này về làng.
12
tuổi, cô bé D. đã biết đạp xe chở thịt chó đi bán. 15 tuổi nghễu nghện đạp xe
chở chó về tận Hà Nội giao hàng. Vậy là, ở tuổi 56, bà D. đã có hơn 40 năm gắn
bó với nghề thịt chó.
Bà
D. lấy chồng, là ông K., người làng khác. Mặc dù là cán bộ Nhà nước, nhưng đồng
lương công chức đói kém, nên ông đã bỏ cơ quan về giết mổ chó giúp vợ.
Công
việc mổ chó suôn sẻ, kinh tế gia đình ngày một khấm khá. Thế nhưng, cách đây 15
năm, một vụ tai nạn giao thông khi ông đi giao thịt chó, đã cướp đi mạng sống
của chồng bà.
Sau
cái chết của chồng, người ta đồn là gặp vận rủi do làm nghề sát sinh, nên người
thân trong gia đình đều khuyên bà nên bỏ nghề. Bà D. cũng tính bỏ nghề, nhưng
ruộng đất không có, bà lại chỉ thạo mỗi nghề mổ chó, đàn con đang tuổi ăn, tuổi
học, không mổ chó thì lấy gì nuôi con, nên bà vẫn phải nhắm mắt theo nghề.
Lại
có câu “Khuyển thủ dạ, kê tư thần”, nghĩa là con chó thức đêm canh cho con
người, con gà gáy sáng báo thức, thì con người mới sớm khuya an giấc. Con
chó thân thiết với con người là vậy, mà sát hại nó, ăn thịt nó thì quá tàn
nhẫn
Sư thầyThích Thanh Thủy
Kể từ đó, bà năng đi
chùa hơn. Cứ đến ngày rằm, mùng một, các ngày lễ lớn, bà đều lên chùa, làm lễ,
mong linh hồn những con chó do bà sát hại được đầu thai vào loài khác, được
siêu sinh, không phải làm kiếp chó nữa.
Mặc
dù, công việc giết mổ chó mỗi ngày một phát đạt, kinh tế mỗi ngày thêm khá giả,
song bà D. không thấy hạnh phúc hơn. Bao năm trời bà khốn khổ với một cậu con
trai. Anh này không ham học, không ham làm, mà chỉ phá phách tiền bạc của bà.
Hết lô đề, cờ bạc, anh ta quay sang hút chích. Cuối cùng, người con trai này
cũng chết vì sốc thuốc.
Sư trụ
trì Thích Thanh Thủy bảo rằng, ở làng Cao Hạ, bà D. là người rất tín tâm. Mỗi
lần đi chùa, bà cúng tới vài chục triệu, đốt vô số vàng mã.
Thầy Thủy bảo: “Tôi cũng
thuyết giảng, tuyên truyền nhiều lắm, nhưng nghề mổ chó là miếng cơm manh áo
của họ, nên họ không bỏ được. Họ vừa làm vừa vào chùa sám hối. Họ tưởng làm thế
là thoát, nhưng họ đã lầm. Nhân – Quả rất công bằng. Dù có cúng cả tiền tỉ, thì
họ vẫn phải nhận cái Quả, do đã gieo Nhân ác sát sinh.
Trong
Tam tự kinh có câu “Khuyển mã tứ tình”, tức là con chó, con ngựa có tình cảm
với con người, nó cũng là một sinh linh như con người. Lại có câu “Khuyển thủ
dạ, kê tư thần”, nghĩa là con chó thức đêm canh cho con người, con gà gáy sáng
báo thức, thì con người mới sớm khuya an giấc. Con chó thân thiết với con người
là vậy, mà sát hại nó, ăn thịt nó thì quá tàn nhẫn”.
Theo
thầy Thủy, không chỉ bà D., mà còn có một số chuyện chết chóc nữa trong làng
Cao Hạ cũng liên quan đến con chó. Chính vì thế, người dân trong làng rất hoang
mang, sợ hãi với công việc giết chó, dù họ là những chủ lò mổ.
Có một
cái chết được dân làng kể nhiều, là cái chết của ông H. Một đồn mười, mười đồn
trăm, khiến cái chết của ông trở nên kỳ quái.
Ngày
đó ông H. gây dựng được lò mổ chó lớn nhất nhì làng Cao Hạ. Đêm nào vợ chồng
ông với sự phụ giúp của con cái, cũng hóa kiếp vài chục chú chó.
Thế
nhưng, một đêm, sau khi đập chết chó, thui rơm vàng ươm, chuẩn bị mổ bụng moi
lòng, thì mọi người không thấy ông H. đâu cả. Lát sau mới thấy ông chết bỏng
trong nồi nước nhúng chó để vặt lông.
Ngay
sau cái chết của ông H. một thời gian thì đến cái chết của anh V., chồng chị C.
Khi đó, anh V. tròn 40 tuổi. Anh là thợ mổ chó lành nghề nhất làng Cao Hạ. Chỉ
3 tiếng nửa đêm về sáng, mình anh mổ xong 10 đến 15 chú chó.
Vì có
tay nghề cao, nên kinh tế gia đình mỗi ngày thêm khấm khá. Thế nhưng, tai họa
ập đến đúng lúc gia đình đang ăn nên làm ra. Khi anh cắm quạt điện để thui chó,
anh bị điện giật chết, mặt mũi méo xẹo, nằm vật bên đống chó chưa kịp thui.
Rồi
cái chết cũng hết sức lãng xẹt của ông Nguyễn Văn L. Ông L. cũng là chủ lò mổ
chó chuyên nghiệp ở Cao Hạ. Người Cao Hạ bị chó cắn như cơm bữa, nên nhà nào
cũng thủ sẵn thuốc tiêm phòng.
Mấy
lần bị chó cắn, ông L. đều tiêm phòng cẩn thận. Thế nhưng, lần này, con chó cắn
nhẹ, chỉ hơi xước ở cổ tay, nên ông chủ quan, không tiêm tiếc gì cả. Thời gian
sau, ông lên cơn dại, rồi qua đời.
Cái
chết của 4 chủ lò mổ liên quan đến chó dù chỉ là sự trùng hợp bình thường, là
tai nạn nghề nghiệp, song khiến người dân Cao Hạ hoang mang, đồn đại suốt nhiều
năm trời.
Họ sợ
hãi cái thuyết nhân quả, gánh nghiệp sát sinh, nên không ai dám mổ chó nữa. Để
duy trì sự hoạt động của lò mổ họ đồng loạt thuê thợ nơi khác đến giết mổ chó,
còn dân trong làng chỉ làm những công đoạn tiếp theo. Họ muốn đổ cái nghiệp sát
sinh đó cho những người làm thuê.
Quả thực, lang thang ở làng Cao Hạ, tôi nhận thấy rằng, rất
ít gia đình có được hạnh phúc đầy đủ, toàn vẹn vì nghề giết mổ chó. Chỉ có 3
gia đình giàu có, nhưng nhà thì có người chết chóc, nhà có con cái nghiện ngập.
Còn lại, tất cả các hộ gia đình chỉ có mức sống bình thường từ nghề giết mổ
chó. Nhiều người có được chút tiền từ lò mổ thì sa đà vào cờ bạc, ăn chơi,
nghiện ngập…
Đại gia Sài Gòn sắm trực thăng, tàu nghìn tỷ ra
Hoàng Sa
Một đại gia tại Sài Gòn vừa quyết định
đầu tư hàng nghìn tỷ đồng sắm 100 chiếc tàu, máy bay trực thăng… để ra Hoàng Sa
đánh cá. Căm tức hành động ngang ngược của “láng giềng” Từ
đầu tháng 5, ngay khi vụ việc Trung Quốc hạ đặt giàn khoan Hải Dương 981 (HD981)
trái phép trên vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam cũng như các tàu của TQ
liên tục gây hấn, ức hiếp gây thiệt hại nặng về tài sản của ngư dân, ông Phạm
Ngọc Lâm, chủ tịch HĐQT CTCP Đức Khải (một doanh nghiệp chuyên về lĩnh vực kinh
doanh bất động sản, xuất nhập khẩu…khá thành đạt ở TP HCM) cảm thấy bứt rứt,
căm tức hành động ngang ngược của Trung Quốc đã không thể thờ ơ.
Chủ
tịch HĐQT công ty cổ phần Đức Khải Phạm Ngọc Lâm rất thành đạt trong việc
kinh doanh bất động sản, xuất nhập khẩu nhưng không thờ ơ trước sự ngang
ngược của Trung Quốc.
Vậy
là ngay sau đó, một kế hoạch “kinh doanh” táo bạo chưa từng có đã được vị chủ
tịch HĐQT lập ra và nhận được sự ủng hộ từ các cấp lãnh đạo Đảng và Nhà nước
cũng như toàn bộ cổ đông công ty cổ phần Đức Khải. Chỉ
trong khoảng thời gian 2 tháng, ông Lâm cùng những người tâm huyết của công ty
Đức Khải đã xuôi ngược khắp nơi hết trong nước rồi ra đến nước ngoài làm mọi
thủ tục, tìm kiếm, hợp đồng với đối tác để mua bằng được 100 con tàu đánh cá có
công suất từ 500 đến 1500 mã lực tại các nước hàng đầu về công nghiệp đóng tàu
và đánh bắt như Hàn Quốc, Nhật, Úc.
Đây
là 45 con tàu đầu tiên (trong số 100 tàu) mua từ Hàn Quốc sẽ về Việt Nam vào
cuối tháng 8 tới.
“Đây
là những con tàu hiện đại được trang bị đầy đủ thiết bị để ra khơi đánh bắt cá
xa bờ và sẵn sàng đối phó với bất cứ thế lực, phương tiện gây hấn nào dù là vòi
rồng hay cố tình lao đâm, va chạm”, ông Lâm tuyên bố. Ngoài
ra, với số vốn đầu tư khoảng 1500 tỷ đồng, công ty Đức Khải còn mua sắm thêm 2
máy bay trực thăng từ các nước Châu Âu, 2 ụ nổi với sức chứa 5000 tấn/ụ…để
chuẩn bị chu đáo cho kế hoạch “tấn công” ngư trường Hoàng Sa, đánh bắt thủy,
hải sản ngay trên vùng biển thuộc chủ quyền của Việt Nam.
Phác
thảo các con tàu sau khi về Việt Nam sẽ được sơn đúng màu và logo của công ty
cổ phần Đức Khải để thẳng tiến ngư trường Hoàng Sa.
“Ngoài
việc kinh doanh thu lợi nhuận, nộp ngân sách nhà nước và giải quyết việc làm
cho hàng ngàn lao động, 100 con tàu ra khơi và chắc chắn sẽ còn làm được nhiều
việc hơn thế nữa để cùng ngư dân bám biển”, vị chủ tịch HĐQT khẳng định. Mới nghe đã… “sướng”! Đó
là lời chia sẻ chân thành của những phóng viên trong buổi tiếp chuyện cùng ông
Phạm Ngọc Lâm, tại văn phòng công ty Đức Khải vào chiều 2/7. Ông
Lâm khẳng định: “Đến thời điểm này công ty đã đặt mua 45 chiếc tàu đánh cá của
Hàn Quốc và dự kiến cuối tháng 8 sẽ về đến Việt Nam; 55 chiếc còn lại (của các
nước Úc và Nhật) cũng sẽ lần lượt nhập về trong thời gian sớm nhất để bằng mọi
giá đầu năm 2015 sẽ chính thức hoạt động”. Theo
ông Lâm, sở dĩ ông chọn giải pháp mua tàu cũ từ các nước phát triển và có kỹ thuật
cao về công nghiệp đóng tàu và đánh bắt để có thể triển khai ngay kế hoạch
nhanh chóng ra Hoàng Sa cùng ngư dân bám biển vì đóng mới tàu sẽ rất mất thời
gian.
Đây
là một trong những con tàu được CTCP Đức Khải mua lại từ Nhật Bản.
“95
chiếc tàu có công suất từ 500 đến 1500 mã lực được trang bị hiện đại sẽ ra khơi
đánh bắt, khai thác thủy, hải sản ở 5 ngư trường Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Phú Yên,
Bình Định và Khánh Hòa (thuộc vùng biển Hoàng Sa); 5 chiếc còn lại dùng trong
công việc cứu hộ, cứu nạn, hậu cần (như tiếp tế lương thực, thực phẩm, nhiên
liệu…) cung cấp cho các tàu đánh bắt và nhận sản phẩm các tàu khai thác được
đưa về đất liền. Ngoài ra 2 chiếc ụ nổi (mua từ Đài Loan) với sức chứa 5000
tấn/ụ sẽ đặt giữa ngư trường (trong bán kính từ 50 đến 60 hải lý) để tiếp nhận
thủy, hải sản các tàu đánh bắt đưa về để phân loại, bảo quản.”, ông Lâm cho
biết. “Các
ụ nổi cũng được đầu tư trang thiết bị phục vụ nhu cầu nghỉ ngơi, giải trí, chăm
sóc sức khỏe cho các thuyền viên. Đồng thời nó cũng thực hiện nhiệm vụ bảo trì,
sửa chữa cho các tàu đánh bắt hư hỏng nhỏ”, ông Lâm thông tin thêm. Riêng
2 chiếc máy bay trực thăng (giá mỗi chiếc khoảng 30 tỷ đồng) cũng đang được
công ty Đức Khải đàm phán với đối tác ở Châu Âu để sớm đưa về nhằm phục vụ việc
cứu hộ, cứu nạn trong các tình huống khẩn cấp cho các ngư dân trên biển. Theo
ông Lâm, 2 chiếc trực thăng sẽ đỗ ở các đảo do cơ quan nhà nước quản lý và sử
dụng trong công tác tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn trên cả nước. “Điều đáng mừng là hiện các đối tác Nhật
Bản đã cam kết bao tiêu toàn bộ sản phẩm thủy, hải sản (nhất là cá Ngừ, sản
phẩm khai thác lên đến 70% trong kế hoạch của Đức Khải). Chúng tôi cũng đã có
kế hoạch phân loại để sơ chế, bảo quản sản phẩm đủ tiêu chuẩn ngay trên ụ nổi
giữa đại dương có sự kiểm tra của đối tác và đưa lên tàu xuất khẩu trực tiếp đi
nước ngoài.”, ông Lâm phấn khởi chia sẻ.
Số
tàu này sẽ sớm được đưa về Việt Nam để hoàn tất thủ tục để đầu năm 2015 cùng
tiến ra vùng biển Hoàng Sa đánh bắt thủy, hải sản.
Được
biết đến thời điểm này, mọi trở ngại về việc nhập 100 chiếc tàu đánh bắt cá có
công suất lớn cơ bản đã được công ty cổ phần Đức Khải giải quyết nhờ chế độ hỗ
trợ, ưu đãi của Chính phủ. Theo kế hoạch, từ nay đến cuối tháng 11, Đức Khải sẽ
hoàn tất việc mua sắm, tàu, trực thăng, ụ nổi, trang thiết bị, cơ sở hạ tầng…,
đến cuối năm sẽ đưa vào vận hành thử và đầu năm 2015, 100 con tàu sẽ tiến ra
vùng biển Hoàng Sa chính thức hoạt động đánh bắt cá.
Theo
ông Phạm Ngọc Lâm, với việc đi vào hoạt động của 100 tàu đánh bắt thủy, hải
sản sắp tới, ngoài số lượng lao động sẵn có, công ty Đức Khải còn giải quyết
việc làm cho hơn 2000 lao động của 5 tỷnh, thành Đà Nẵng, Quảng Ngãi, Phú
Yên, Bình Định và Khánh Hòa.
Doanh
nhân Phạm Ngọc Lâm lạc quan với kế hoạch đưa 100 con tàu ra Hoàng Sa để
đánh bắt cá nhằm khẳng định chủ quyền hải đảo của Việt Nam.
“Công
ty sẽ tổ chức các đợt đào tạo về đánh bắt, sơ chế. Tất cả thuyền viên sẽ được
hưởng lương phân chia theo tỷ lệ người lao động được 65%; công ty 34% và 1%
đóng góp vào quỹ kiểm ngư để hỗ trợ. Ngoài ra nếu vào mùa biển động, bão
tố…không hoạt động được, thuyền viên vẫn nhận trợ cấp không dưới 5 triệu
đồng/người/tháng. Chúng tôi cũng khuyến khích thuyền viên mua lại cổ phần để
sau vài năm họ sẽ trở thành chủ tàu”, ông Lâm cho biết.
Trà
Vinh cấp phép 2.100 lao động Trung Quốc, thêm lo ngại?
admin
08/07/2014
BÀI NỔI
BẬT, THẾ
GIỚI HỘI NHẬP
Công ty China Chengda Engineering vừa tuyển trên 2.100 người lao động Trung Quốc làm việc tại nhà máy nhiệt điện Duyên Hải 3.
Bà Sơn Thị Ánh Hồng, phó chủ tịch UBND tỉnh Trà Vinh cho biết, quyết định này được ban hành ngày
2/7. Theo đó, Trà
Vinh đã cho phép Công ty China Chengda Engineering được tuyển trên 2.100 người lao động Trung Quốc đến làm việc tại công trình Nhà
máy nhiệt điện Duyên Hải 3 (tỉnh Trà Vinh).
Lý do: không tuyển được lao động người Việt Nam.
Trả lời trên báo Tuổi Trẻ, bà Hồng cho biết, đây là quyết định đã được thông qua nhiều cấp liên quan, có sự kiểm tra của Sở Lao động – thương binh và xã hội. “Quyết định này không dựa vào báo cáo một chiều từ phía công ty”, bà
Hồng khẳng định.
Giải thích thêm về vấn đề này, ông Dương Quang Ngọc (phó giám đốc Sở Lao động – thương binh và xã hội) cho rằng phía Công ty China Chengda Engineering có chuyển thông tin tuyển dụng lao động đến sở và các phòng lao
động – thương binh và xã hội cấp huyện, thành phố cũng như các trung tâm giới thiệu việc làm. Toàn bộ vị trí tuyển dụng không phải lao động phổ thông mà là lao động kỹ thuật cao và chuyên gia.
Theo ông Ngọc, sau khoảng hai tháng đăng tuyển, số lượng lao động trong nước có rất ít người nộp hồ sơ xét tuyển hoặc có gửi hồ sơ nhưng không đến phỏng vấn xin việc làm. Do đó phía công ty xin các cấp lãnh đạo liên quan tuyển lao động người nước ngoài (quốc tịch Trung Quốc) để đảm bảo tiến độ thi công.
“Tuy nhiên, số lượng hơn 2.100 lao động được tuyển trong vòng bốn năm (2014-2018)
chứ không phải tuyển đột xuất trong khoảng thời gian ngắn” – ông Ngọc nhấn mạnh.
Trước đó, thông tin báo chí có phản ánh về tình trạng lao động tràn lan khắp các dự án lao động trong nước nhưng địa phương không quản lý được.
Ngay tại tỉnh Trà Vinh, sau khi Sở LĐ-TB&XH Trà Vinh cùng phối hợp với các cơ quan chức năng của tỉnh kiểm tra và phát hiện có 920 lao động, hầu hết là người Trung Quốc, đang làm việc tại Trung tâm Điện lực Duyên Hải (huyện Duyên Hải, tỉnh Trà Vinh).
Thế nhưng trong đó chỉ có 517 lao động được cấp giấy phép lao động, đang xin cấp giấy phép 165 lao động, miễn cấp giấy phép tám lao động và 230 lao động đang làm việc nhưng chưa được cấp giấy phép.
Trước tình trạng này, Trà Vinh đã phải vội vàng ra tối hậu thư cho những lao động nước ngoài chưa được cấp phép. Theo đó, bà Phan Thị Thanh Bình, giám
đốc Sở LĐ-TB&XH tỉnh Trà Vinh khẳng định từ ngày 15/5, sẽ không được vào công trình
làm việc.
Lao động TQ tràn khắp Bắc-Trung-Nam
Không chỉ có Trà Vinh, báo cáo của nhiều tỉnh thành khác cũng
cho biết tình trạng tương tự. Tuy nhiên, tới nay mới chỉ Trà Vinh thể hiện quan điểm quyết liệt xử lý những trường hợp này.
Báo cáo của Sở LĐ-TB&XH Bình Thuận ngày 31/3, cho biết tại công trường Nhà máy nhiệt điện (NMNĐ) Vĩnh Tân
2 (xã Vĩnh Tân, H.Tuy
Phong, Bình Thuận) còn 528 lao động (LĐ) người Trung Quốc. Trong số đó chỉ có 283 lao động có giấy phép, còn lại là lao động “chui”.
Tại Thanh Hóa, nhà thầu Viện Nghiên cứu và thiết kế ximăng Hợp Phì (Trung Quốc) đưa 163 lao động Trung Quốc sang làm việc có thời hạn từ nay đến tháng 12/2014 tại Nhà máy ximăng
Công Thanh.
Điều đáng nói là trong số 163 lao động này chỉ có 49 lao động có trình độ chuyên môn đại học trở lên; còn tới 114 lao động kỹ thuật mà hầu hết tại VN đều sẵn có nhưng nhà thầu Trung Quốc không tuyển dụng.
Khi dự án Formosa triển khai tại Khu kinh tế Vũng Áng (huyện Kỳ Anh, Hà
Tĩnh), nhiều doanh nghiệp, nhà thầu Trung Quốc đã trúng thầu và kéo theo hàng
nghìn lao động “chân tay” đi
theo.
Ban quản lý Khu kinh tế Vũng Áng được tỉnh Hà Tĩnh ủy quyền cấp giấy phép lao động cho người nước ngoài, trong đó có1.560 người được cấp giấy phép lao động, chủ yếu là người Trung Quốc. Nhiều người Trung Quốc sang VN bằng đường du lịch và sau đó ở lại làm thuê.
Lo ngại
GS- TSKH Nguyễn Mại -nguyên Thứ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư khẳng định: “Không chỉ lao động Trung Quốc mà tất cả lao động khi vào FDI tại Việt Nam cũng đều trái luật. Vì FDI là thu hút lao động địa phương, chuyển giao công nghệ cao… chúng ta
không dại đi tuyển lao động phổ thông từ nước ngoài”.
Ông cho biết thêm, theo nguyên tắc, bất kể lao động nước ngoài nào khi
vào Việt Nam cũng phải đăng ký, tuy nhiên vẫn xuất hiện những trường hợp lao động Trung Quốc đăng ký kỹ sư nhưng lại làm việc chân tay thì đó
là trách nhiệm của Sở LĐ&TBXH các tỉnh.
Quản lý quá lỏng léo, không có
biện pháp kiểm tra, giám sát.
“Cũng phải khẳng định việc lao động Trung Quốc tồn tại như vậy là hoàn toàn trái ngược với mục đích chính sách thu hút FDI của Việt Nam”, GS Nguyễn Mại nói.
Trong khi đó, chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan lo ngại sự im lặng, làm ngơ, tiếp tay của cơ quan chức năng sẽ làm mất tính độc lập, chủ động của nền kinh tế VN…
“Để lao động Trung Quốc tràn lan mà không xử lý được thì phải xem xét lại chức năng nhiệm vụ của các cơ quan này. Có chuyện bao che, làm ngơ hay không? Nếu chỉ cần nhìn vào mức độ nhập siêu của Việt Nam cũng có thể thấy mức độ kinh tế phụ thuộc vào Trung Quốc là rất nặng.
Nhưng điều tôi lo sợ nhất là sự im lặng, làm ngơ hoặc tiếp tay cho hiện tượng này. Điều này sẽ làm mất tính độc lập, chủ động của nền kinh tế Việt Nam trong quan hệ với Trung Quốc”, bà Lan nói.