Xe công nghiệp
bao gồm xe buýt, xe tải và xe ủi đất trong một cuộc triển lãm thương mại bốn
ngày tại Hà Nội ngày 12 tháng 6 năm 2013, về các sản phẩm sản xuất tại các tỉnh
phía nam của Quảng Tây Trung Quốc.
AFP PHOTO
Trong quý 1/2016, Trung Quốc vẫn là thị trường nhập khẩu lớn nhất
của Việt Nam.
Số liệu mới nhất vừa được Tổng Cục Hải Quan Việt Nam công bố cho
thấy trong 3 tháng đầu năm nay, tổng số hàng nhập khẩu là 37,4 tỷ dollars, trong
đó số hàng nhập khẩu từ Trung Quốc đã chiếm 10,7 tỷ dollars, tức 28%.
Công bố của Tổng Cục Hải Quan cho thấy tất cả những mặt hàng Việt
Nam nhập khẩu nhiều nhất đều xuất xứ từ Trung Quốc, từ máy móc, máy vi tính, linh kiện điện tử,
cho đến nguyên liệu dệt may.
Công bố này cũng cho thấy sau số tiền nhập khẩu hàng từ Trung Quốc
là hàng Việt Nam mua từ Hàn Quốc, khu vực ASEAN, Nhật Bản và Hoa Kỳ.
Một cửa hàng
quần áo bán các sản phẩm sản xuất trong nước ở trung tâm thành phố Hà Nội ngày
29 tháng 10 năm 2014.
AFP PHOTO
Khó có nền kinh tế nào có thể cất cánh trong tình trạng doanh nghiệp
chết hàng loạt, giải thể hay ngừng hoạt động. Giới chuyên gia mô tả tình trạng
bất bình thường, qua sự kiện 46% doanh nghiệp ngừng hoạt động trong vòng 10 năm
qua.
Theo các số liệu chính thức của các cơ quan chuyên môn như Tổng
cục Thống kê, Cục Quản lý kinh doanh, Bộ Kế hoạch Đầu tư, riêng trong năm 2015,
số doanh nghiệp phải ngừng hoạt động là hơn 71.000 đơn vị, tăng hơn 22% so với
năm trước. Số doanh nghiệp giải thể, ngừng hoạt động gia tăng hàng năm, đến nỗi
có sự ví von là một doanh nghiệp ra đời chưa kịp tham gia thị trường, thì lại
có một doanh nghiệp làm ăn thua lỗ, gặp khó khăn, lâm cảnh nợ nần và phải ngừng
hoạt động.
Việt Nam nên nghiên cứu một tổ chức giúp đỡ cho doanh nghiệp vừa
và nhỏ, vì đây thể hiện hơn 90% tổng số doanh nghiệp.
- Chuyên gia tài chính Bùi Kiến Thành
Có nhiều nguyên do để doanh nghiệp tư nhân Việt Nam phải rời sân
chơi thị trường, thứ nhất là cạn vốn
mà không có chỗ để vay thêm.
Trong hoạt động sản xuất kinh doanh thì giá thành cao, phẩm chất hàng hóa chưa tốt vì công nghệ lạc hậu,
năng suất lao động thấp. Ngoài thuế và phí theo
qui định, tất cả doanh nghiệp ở Việt Nam dù công hay tư đều phải chấp nhận những khoản chi tiêu không chính
thức, không biết kê vào mục nào.
Chuyên gia tài chính Bùi Kiến Thành, một Việt Kiều về nước làm
việc ở Hà Nội từ hơn 20 năm qua, nhận xét về nguyên nhân mà ông cho là lớn nhất
khiến các doanh nghiệp tư nhân chết hàng loạt.
“Khó khăn lớn nhất là các doanh nghiệp ấy chưa có được sự
hỗ trợ của nhà nước để phát triển từ nhiều mặt. Thí dụ doanh nghiệp chưa
tiếp cận được nguồn vốn, nếu tiếp cận được thì lãi suất vẫn còn quá cao.
Vì vậy trong thời gian tới cần có chính sách tiền tệ như thế nào để cho doanh
nghiệp vừa và nhỏ tiếp cận được nguồn vốn với lãi suất hợp lý. Ngoài ra Việt
Nam nên nghiên cứu một tổ chức giúp đỡ cho doanh nghiệp vừa và nhỏ, vì đây thể
hiện hơn 90% tổng số doanh nghiệp. Nhà nước nói là tạo mọi điều kiện để cho
doanh nghiệp phát triển, thế thì mọi điều kiện đó là cái gì…Nhà nước cần ngồi
lại với các doanh nghiệp để đưa ra những quyết sách mới…”
Trò chuyện với chúng tôi, chuyên gia kinh tế Phạm Chi Lan nguyên thành
viên Ban Tư vấn Kinh tế của Thủ tướng Phan Văn Khải, từng phân tích là về
nguyên tắc, nguồn tín dụng trên thị trường mà các doanh nghiệp tư nhân trông
chờ có thể bị giảm đi khá nhiều, vì các nhà đầu tư đi tìm lợi nhuận cao hơn và
chắc chắn hơn, thông qua việc mua trái phiếu chính phủ được phát hành rất nhiều
trong thời gian qua. Trong dịp đề cập tới những vấn đề bất ổn đang giăng bẫy
nền kinh tế Việt Nam, chuyên gia Phạm Chi Lan từ Hà Nội nhận định:
“Về khu vực tư nhân trong nước thì rất nhiều doanh nghiệp bị ngừng
hoạt động, số ngừng hoạt động cứ tiếp tục tăng lên. Nhiều doanh nghiệp lớn hơn
không phải ngừng hoạt động, tình trạng hoạt động khá hơn thì lại đi bán cho các
công ty khác qua các thương vụ mua lại sáp nhập… Chính sách của nhà nước vẫn thiên về hỗ trợ
nhiều hơn cho khu vực đầu tư nước ngoài, thay vì khu vực tư nhân trong nước…”
Một cửa hàng tiện lợi Hàn Quốc ở trung tâm thành phố Hà Nội, ảnh
chụp ngày 08 tháng 12 năm 2015.
Theo báo cáo thường niên Doanh nghiệp Việt Nam 2015 do Phòng
Thương mại và Công nghiệp Việt Nam phổ biến, tổng số doanh nghiệp đã đăng ký thành
lập vào khoảng 941.000 đơn vị, tính từ khi Luật Doanh nghiệp có hiệu lực năm
2000. Riêng trong giai đoạn từ 2007 đến 2015 tổng số doanh nghiệp ngừng hoạt
động lên tới 428.000 đơn vị tương đương 45,5% tổng số doanh nghiệp. Như vậy
tính đến cuối năm 2015 Việt Nam đang có khoảng 513.000 doanh nghiệp, đại đa số
là doanh nghiệp vừa và nhỏ.
Bên cạnh các vấn đề thuộc về chính sách như thuế, phí và tỷ giá, doanh
nghiệp còn bị ảnh hưởng bởi thủ tục hành chính nhiêu khê và bất hợp lý. Vấn đề
này vô hình chung góp phần tăng thời gian và chi tiêu của doanh nghiệp. Báo chí
Việt Nam thường ví von thủ tục hành chính: hành là chính, còn nguyên Chủ tịch
Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng thì từng cám cảnh, thủ tục bây giờ ác độc lắm không
có tiền là không xong.
Trong xu hướng cải cách ở Việt Nam, chuyên gia Bùi Kiến Thành cho rằng
việc cần làm ngay là cải cách một cách thực chất về thủ tục hành chính. Ông
nói:
“Lãnh đạo nhà nước đã nói bế tắc lớn nhất của chúng ta là vấn đề thủ
tục hành chính chưa được khai thông. Cho nên cải cách hành chính là vấn đề ưu
tiên hàng đầu đối với việc quản lý nhà nước. Như vậy đã biết hướng đi rồi còn
lại là cải cách hành chính như thế nào. Ở cấp Trung ương phải làm gì, ở cấp địa
phương thực hiện ra sao, đi đến chỗ những người tiếp cận với nhân dân có thái
độ như thế nào để được nhân dân ủng hộ. Việc này không chỉ thay đổi tư duy mà
còn là phong cách xử lý trong quan hệ với dân, để cho nhà nước và nhân dân gần
nhau hơn, có được sự hợp tác chặt chẽ giữa nhân dân và nhà nước để có thể vươn
lên, việc này là ưu tiên hàng đầu…”
Được biết Chính phủ Việt Nam đã tiến hành cải cách hành chính theo
nghị quyết 30 năm 2011. Cho đến nay, kế hoạch này đã đi nửa đoạn đường 2011-2020
nhưng kết quả đạt được không đáng kể. Tình trạng này đã được các đại biểu Quốc
hội khóa 13 nhận xét nặng nề, trong kỳ họp cuối cùng trước khi mãn nhiệm.
Chuyên gia Bùi Kiến Thành tiếp lời:
Chính sách của nhà nước vẫn thiên về hỗ trợ nhiều hơn cho khu vực
đầu tư nước ngoài, thay vì khu vực tư nhân trong nước.
- chuyên gia Phạm Chi Lan
“Muốn cải cách hành chính thì cải cách thể chế như thế nào. Cái gì
cần cải cách trong thể chế, cái gì cần phải đưa ra trong những qui định mới,
trong việc xử lý công việc của các bộ các ngành như thế nào, tổ chức ra những
cơ chế gì để ủng hộ doanh nghiệp phát triển, cơ chế gì để cho nhân dân có thể
tham gia phát triển, không chỉ kinh tế mà thôi mà còn về vấn đề tự do, phát huy
dân chủ, làm chủ đất nước...”
Tệ nạn tham nhũng làm suy yếu hệ thống công quyền và mất niềm tin
của nhân dân. Trong các cuộc hội thảo, giới chuyên gia và cộng đồng doanh nghiệp
phản ánh rất nhiều về tình trạng phải thực hiện các khoản chi không chính thức.
Riêng ông Bùi Kiến Thành mô tả tham nhũng ở Việt Nam là một quốc nạn, mà đã đến lúc phải có các nỗ lực quyết liệt để
giảm bớt tình trạng này. Ông nói:
“Phòng chống tham nhũng cần phải làm quyết liệt hơn các thời trước,
phải có phương pháp nào để trên bảo dưới phải nghe…phải có kỷ cương phép nước
như thế nào, để cho các công chức nhà nước thực sự phục vụ nhân dân chứ không
phải là lãng quên trách nhiệm của mình là người phục vụ nhân dân…”
Vấn đề doanh nghiệp chết hàng loạt có xu thế gia tăng trong thời
gian tới. Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam thông báo, tân Thủ tướng Nguyễn
Xuân Phúc đồng ý tổ chức hội nghị đối thoại với doanh nghiệp tư nhân dự kiến vào
cuối tháng 4/2016 sắp tới tại Dinh Thống Nhất Saigon. Tân Thủ tướng mong muốn
lắng nghe cộng đồng doanh nghiệp để tìm giải pháp phát triển, trong bối cảnh đã
có tới 428.000 doanh nghiệp ngừng hoạt động vì khó khăn trong 10 năm qua.
Hồ sơ Panama Papers, cho đến thời điểm này, chưa thấy tiết lộ
thông tin gì liên quan Việt Nam nhưng tổ chức nghiên cứu phi lợi nhuận Global Financial
Integrity (GFI, Washington DC; được thành lập năm 2006 với mục đích khảo sát
dòng tiền phi pháp tuồn ra nước ngoài của các quốc gia, đặc biệt các nước đang
phát triển) đã thống kê số tiền phi pháp được tuồn khỏi Việt Nam. Báo cáo GFI
công bố tháng 12-2015 cho biết, từ năm 2004 đến 2013, các nước đang phát triển
thất thoát đến 7,8 ngàn tỷ USD với tỉ lệ tăng trung bình 6,5%/năm - gấp đôi tỉ
lệ GDP toàn cầu.
Dòng chảy tài chính bất hợp pháp (illicit financial flows) được
định nghĩa là những phi vụ chuyển tiền hoặc vốn từ nước này đến nước kia. Gọi là
“bất hợp pháp” bởi nguồn tiền được chuyển là tiền có được từ những hoạt động
phi pháp chẳng hạn buôn lậu hoặc tham nhũng. Việc lập công ty ma ở những thiên
đường trốn thuế được xem là phi pháp và việc cắn xé nguồn vốn ODA để tư túi và
chuyển cất ở nước ngoài tất nhiên cũng không hợp pháp. Với Việt Nam, báo cáo GFI cho biết, dòng tiền
phi pháp chảy ra nước ngoài đã tăng liên tục:
Năm 2004: 4,034 tỷ USD
Năm 2005: 4,665 tỷ USD
Năm 2006: 4,964 tỷ USD
Năm 2007: 5,473 tỷ USD
Năm 2008: 7,633 tỷ USD
Năm 2009: 13,054 tỷ USD
Năm 2010: 8,358 tỷ USD
Năm 2011: 11,967 tỷ USD
Năm 2012: 14,940 tỷ USD
Năm 2013: 17,837 tỷ USD
Tổng cộng: 92,935 tỷ USD (tức
trung bình 9,293 tỷ USD/năm)
Trong bài viết trên Thời Báo Kinh Tế Sài Gòn (1-4-2016), kinh tế
gia Vũ Thành Tự Anh cho biết, “trong 20 năm trở lại đây, chưa bao giờ bức tranh
ngân sách xấu như bây giờ”. Không chỉ vậy, nợ công Việt Nam đang tiến đến ngưỡng
“chết chùm”. Chiếc đồng hồ đo nợ công toàn cầu (cập nhật liên tục) của The
Economist (truy cập ngày 12-4-2016) cho biết, nợ công Việt Nam hiện là 94.854.098.361 USD, tức mỗi đầu người, bất luận trẻ nhỏ hay cụ
già, ông bán vé số hay cô nhân viên ngân hàng, phải gánh khoản nợ công là
1.039,67 USD. Điều trớ trêu là con số tổng thất thoát tài chính Việt Nam từ 2004 đến 2013 như nói ở
trên (92,935 tỷ USD), mà tất nhiên người
nghèo không hề liên quan, lại khá gần bằng với con số tổng nợ công (hơn 94,854
tỷ USD).
Trong bối cảnh kinh tế co thắt và khủng hoảng ngân sách sâu, bởi
chủ yếu tình trạng thu chi bừa bãi và lạm dụng nguồn vốn vay ODA, tức một nền
kinh tế cực kỳ bấp bênh không an toàn, người giàu chắc chắn còn tiếp tục chuyển
tiền và tài sản ra nước ngoài, hợp pháp lẫn bất hợp pháp, như cơn sốt diễn ra
lâu nay. Dòng tiền này dường như không được giám sát hoặc ngăn chặn. Cần biết,
tổng ngân sách cho giáo dục năm 2015 là gần 225.000 tỷ đồng. Trong khi đó, mỗi
năm lại có 9,293 tỷ USD (khoảng 207.187 tỷ đồng) được chuyển ra nước ngoài, một
cách bất hợp pháp. Ai chuyển và bằng cách nào? Dĩ nhiên khi liệt kê hơn 140
quốc gia và công bố các thương vụ chuyển tiền ra nước ngoài bất hợp pháp hàng
năm, GFI phải có nguồn. Họ không thể công bố bừa bãi mà không có bằng chứng. Chẳng
phải tự nhiên mà Ngân hàng Thế giới tuyên bố ngưng cho vay ODA từ năm sau
(2017).
Ngân sách khô hạn, tài chính quốc gia lại bị “xuất huyết”, đất
nước xác xơ chỉ còn lại những tấm lưng nghèo. Người dân tiếp tục đối mặt với nợ
chồng nợ, theo đà cơn sốt lễ hội tốn kém quanh năm và những công trình tượng
đài chưa bao giờ mang lại phúc lợi xã hội và đóng góp cho tỷ lệ tăng trưởng
kinh tế. Không dính dáng gì đến những cuộc “nhậu ngân sách” điên cuồng vô tội
vạ, người dân bây giờ lại bị buộc phải “đổ vỏ”, phải gánh cái khoản nợ chết
tiệt mà họ chưa bao giờ có trách nhiệm gây ra.
Con số ước tính dòng tiền phi pháp chảy khỏi Việt Nam mỗi năm.
(Kinh tế) - Quá
trình chuyển đổi tỷ trọng kinh tế của Trung Quốc mang theo nhiều hiểm hoạ tiềm
tàng không chỉ với chính quốc gia này mà còn với cả phần còn lại của thế giới.
·
Việc quản lý trong giai đoạn chuyển đổi tỷ trọng kinh tế, từ công
nghiệp sang dịch vụ, của Trung Quốc giống như việc đi thăng bằng trên dây. Ảnh:
Reuters
Số liệu mới nhất của Trung Quốc cho thấy tốc độ tăng trưởng trong
quý I/2016 của nước này chỉ đạt 6,7%. Suy thoái vẫn tiếp diễn. Tuy nhiên, con
số này không cung cấp bất cứ câu trả lời dứt khoát nào về việc quốc gia này
đang tác động đến phần còn lại của thế giới ra sao.
Theo BBC, vấn đề nằm ở việc quốc gia đông dân nhất thế giới sẽ
quản lý quá trình thay đổi tỷ trọng kinh tế, từ công nghiệp sang dịch vụ, như
thế nào. Quá trình này khiến tốc độ tăng trưởng của Trung Quốc giảm mạnh, chưa
đến 10% mỗi năm – một con số được xem là không bền vững đối với quốc gia này.
Tuy nhiên, nếu Trung Quốc đạt tốc độ tăng trưởng tối thiểu trong 5
năm tới là 6,5% như giới chức nước này xác định, con số này vẫn khá ấn tượng so
với các tiêu chuẩn quốc tế.
Đầu tư
Tỷ lệ đầu tư so với GDP ở Trung Quốc bắt đầu giảm. Ảnh: Getty
Theo số liệu của Quỹ Tiền tệ Quốc tế (IMF), tỷ lệ đầu tư so với
tổng sản phẩm quốc nội (GDP) của Trung Quốc đạt 43%. Rất ít quốc gia có thể đạt
đến con số này.
Tuy nhiên, nó là một vấn đề. Tỷ lệ đầu tư cao thường đi liền với
các dự án cụ thể mà không khả thi, đặc biệt trong một nền kinh tế đang chững
bước. Tình trạng này gây thiệt hại không nhỏ cho các doanh nghiệp có liên quan,
những nhà đầu tư, bên cho vay và bên cung cấp tài chính.
Dù tỷ lệ đầu tư so với GDP ở Trung Quốc bắt đầu giảm, quá trình đó
và sự suy thoái lan rộng đã, đang và sẽ tiếp tục ảnh hưởng tới phần còn lại của
thế giới.
Nhiều báo cáo của IMF công bố trong tuần này về triển vọng kinh tế
nói chung, sự ổn định tài chính và tài chính của các chính phủ trên thế giới
nói riêng, tất cả đều nhắc đến tác động của suy thoái kinh tế Trung Quốc.
Báo cáo Triển vọng Kinh tế Thế giới của IMF vẽ lên một bức tranh
đầy thất vọng sau cuộc khủng hoảng tài chính phương Tây, một nền kinh thế giới
thất bại trong việc thu thập động lực nhằm tạo ra cú huých phục hồi mạnh mẽ. Và
Trung Quốc là một phần của câu chuyện.
Nguy cơ
Tỷ trọng kinh tế Trung Quốc đang chuyển từ công nghiệp sang dịch
vụ. Ảnh: Getty
Quá trình chuyển đổi của Trung Quốc vẫn là mối nguy hiểm tiềm tàng
cho phần còn lại của thế giới.
Tuy quốc gia này không hẳn là yếu tố duy nhất đằng sau câu chuyện,
nhưng báo cáo chỉ ra rằng “mối quan ngại về tác động toàn cầu của việc loại bỏ
tình trạng dư thừa trong nền kinh tế Trung Quốc trong bối cảnh nước này chuyển
sang con đường tăng trưởng bền vững hơn sau một thập kỷ tăng trưởng mạnh về tín
dụng và đầu tư”.
Báo cáo về Ổn định Tài chính Toàn cầu của IMF cũng xác định Trung
Quốc là một nguy cơ. Suy thoái làm suy yếu sức khoẻ tài chính của nhiều doanh
nghiệp Trung Quốc, làm tăng các vấn đề, khiến các ngân hàng phải đối mặt với
những khoản cho vay không hiệu quả – tiền vay không được hoàn lại.
IMF cho rằng tình hình hiện nay là có thể quản lý. Tuy nhiên, nếu
tình hình trở nên xấu đi, nó có thể ảnh hưởng tới phần còn lại của thế giới,
đặc biệt là thị trường năng lượng.
Nguy hiểm nhất là tác động của Trung Quốc đến sản xuất hàng hoá.
Làn sóng đầu tư trong quá khứ của Trung Quốc đồng nghĩa với nhu cầu về năng
lượng và kim loại công nghiệp tăng cao.
Hiện tại, nhu cầu của nền kinh tế lớn thứ 2 thế giới về các mặt
hàng này giảm khiến giá thành của chúng lao dốc. Riêng với dầu, giá loại nguyên
liệu này giảm còn do nguồn cung dồi dào.
Tình trạng giảm giá các mặt hàng tạo ra mối nguy mới cho sự ổn định
tài chính tại các nước xuất khẩu và tác động mạnh tới tài chính chính phủ của
các quốc gia này.
Nhiệm vụ bất khả thi?
Phần lớn tác động mang tính quốc tế của Trung Quốc nằm ở nhu cầu
của nước này đối với hàng hoá có nguồn gốc nước ngoài.
Mục tiêu tốc độ tăng trưởng kinh tế mà giới chức Trung Quốc đặt ra
ở mức thấp nhất là 6,5%. Điều đó khiến Captial Economics, một văn phòng tư vấn
tại thành phố London (Anh), đặt câu hỏi trong một lưu ý với các khách hàng: “Có
phải Trung Quốc đang cố gắng làm những điều không thể?”.
Văn phòng này nhận định, rất ít quốc gia có thể đạt mức tăng
trưởng ấy và kết luận: Nếu Trung Quốc cố gắng đạt mục tiêu mà không nền kinh tế
có quy mô tương đương nào có thể đạt tới, chúng ta có lý do để hoài nghi về khả
năng thành công của họ.
Trong thực tế, các chuyên gia coi con số chính thức của Trung Quốc
là không đáng tin cậy. Nhiều nhà kinh tế cho hay, tốc độ tăng trưởng thực sự
của quốc gia này thấp hơn nhiều.
Tuy nhiên, điều này không có nghĩa Trung Quốc sẽ kéo thế giới vào
một cuộc suy thoái mới. Nhưng nó khiến các nhà đầu tư cảnh giác với hiệu quả
kinh tế của nước này.
Phần lớn tác động mang tính quốc tế của Trung Quốc nằm ở nhu cầu
của nước này đối với hàng hoá có nguồn gốc nước ngoài. Tuy nhiên, quanh đó còn
nhiều vấn đề quan trọng khác.
Martin Wolf tại Financial Times nhắc về tiềm năng khủng hoảng tại
các quốc gia khi họ mở cửa hệ thống tài chính. “Thế giới có thể thất bại với
việc đối phó với cuộc khủng hoảng tài chính đến từ Trung Quốc”, ông nói.
Vì vậy, điều mà phần còn lại của thế giới chú ý nhất ở hiện tại là
việc Trung Quốc sẽ giữ thăng thằng trên “sợi dây” chuyển đổi kinh tế ra sao.
- Tăng trưởng kinh tế tiếp tục thấp, nợ công và nợ xấu mỗi lúc một phình to của Trung Quốc đang gây lo ngại cho cả thế giới.
·
Ngày 15/4, Trung Quốc thông báo chỉ số tăng trưởng kinh tế quí I/2016 đạt 6,7%, thấp hơn cả mức thấp nhất của năm 2015. Đáng nói hơn, mức tăng trưởng của Trung Quốc trong năm 2015 là thấp nhất trong vòng 25 năm qua.
Quan ngại hơn cả đây là mức tăng trưởng của Trung Quốc đã liên tục sụt giảm trong nhiều năm trở lại đây.
Phản ứng trước số liệu GDP, chỉ số chứng khoán Shanghai Composite Index của Trung Quốc giảm 0,3%, còn chỉ số Hang Seng Index tại Hàn Quốc giảm 0,4%.
Mức tăng trưởng thấp trong thời gian dài của Trung Quốc chưa khiến thế giới lo sợ bằng khoản nợ công và nợ xấu của nước này.
Sự tăng trưởng chậm lại của Trung Quốc đặt ra hai vấn đề: thứ nhất, đây là một gánh nặng đối với các doanh nghiệp, đẩy nợ của các doanh nghiệp lên cao, gây liên lụy cho ngành ngân hàng. Mối lo ngại thứ nhì, là những khó khăn của nền kinh tế thứ hai toàn cầu tác động dây chuyền đến phần còn lại của thế giới.
So với thời điểm của năm 2010, tổng số nợ của các doanh nghiệp Trung Quốc tăng nhanh gấp ba lần. Quỹ Tiền tệ Quốc tế dự báo, rủi ro nợ xấu của ngành ngân hàng Trung Quốc đã lên tới 1.300 tỷ đôla và chỉ riêng trong năm 2015, đã tăng 7%.
Đây là một trong những hậu quả trực tiếp do tiến trình “chuyển hướng” kinh tế của Trung Quốc không được “thuận buồm xuôi gió” như Bắc Kinh mong đợi.
Trung Quốc đang cố gắng giảm bớt lệ thuộc vào xuất khẩu để hướng tới tiêu thụ nội địa, biến Trung Quốc thành một nền kinh tế cung cấp dịch vụ thay vì chỉ trông đợi vào công nghiệp và sản xuất.
Dù vậy, trước mắt chiến lược này đang làm giảm tỷ lệ tăng trưởng một cách rõ rệt và theo IMF, kinh tế Trung Quốc “không hạ cánh nhẹ nhàng” như nhiều người mong đợi.
Trong vòng 7 năm qua, nợ công Trung Quốc đã tăng lên gấp bốn lần, chủ yếu do cơn sốt xây dựng tại nhiều thành phố. Một số nhà kinh tế cho rằng đến năm 2020, tổng nợ công Trung Quốc sẽ lên đến 300% GDP, và như thế đừng mơ đến tăng trưởng.
Năm 2015, số nợ của các chính quyền địa phương Trung Quốc là 15.400 tỉ nhân dân tệ (2.088 tỉ euro), tức gần 25% GDP theo số liệu chính thức. Bộ trưởng Tài chính Trung Quốc Lâu Kế Vĩ vốn dè dặt, năm ngoái đã phải nhìn nhận rằng một số chính quyền địa phương không thể trả nổi nợ. Dù hiện nay tỉ lệ nợ trung bình là 86% so với thuế thu được, có 100 thành phố và 400 quận huyện đã đạt ngưỡng nguy hiểm là 100%, thậm chí có nơi lên đến 220%.
Nguyên nhân chính là cơn sốt xây dựng hoành hành từ nhiều năm qua tại Trung Quốc. Tân Hoa Xã cho biết thủ phủ của mỗi tỉnh đều cho xây dựng thêm bốn hay năm khu phố hoàn toàn mới. Tổng cộng trên toàn quốc hiện có khoảng năm chục thành phố ma – theo tính toán của công cụ tìm kiếm Baidu từ vị trí và sự di chuyển của 700 triệu cư dân mạng.
Hoàn tất năm 2010 sau 5 năm xây dựng, Ngạc Nhĩ Đa Tư thị ở Nội Mông là thành phố ma nổi tiếng nhất Trung Quốc, thu hút các nhà báo tò mò nhiều hơn là dân cư. Dự kiến sẽ tiếp đón một triệu dân, nhưng chính quyền địa phương phải đại hạ giá nhà ở để đưa được 100.000 nông dân ở các khu vực lân cận đến. Ngạc Nhĩ Đa Tư thị ngày nay mắc nợ đến 240 tỉ nhân dân tệ (32,5 tỉ euro). Nhiều công ty được chính quyền thành phố bảo lãnh đang bên bờ vực phá sản.
Bắc Kinh có vẻ đã quyết định hành động. Từ năm ngoái, Bộ Tài chính cho phép chuyển nợ của các địa phương thành trái phiếu, phát hành dưới sự bảo lãnh của Ngân hàng Trung ương. Nhờ đó tỉ lệ lãi chỉ còn 4,5% thay vì 7%. “Bắc Kinh sử dụng uy tín của mình để giảm gánh nặng lãi, nhưng không thể xóa nợ giùm các địa phương”- Hao Hong, Giám đốc nghiên cứu của Bank of Communications International nhận xét.
Một giải pháp khác là tái cân bằng chi tiêu của chính quyền trung ương và địa phương. Cho đến nay, các địa phương lấp khoảng trống thu nhập bằng cách bán đất xây dựng, mà nguồn này không còn nữa từ khi bắt đầu khủng hoảng địa ốc.
Tính chung cả nợ công và nợ tư, thì tỉ lệ nợ của Trung Quốc lên đến 236% GDP! Vì vậy hồi cuối tháng 3/2016, cơ quan thẩm định Standard & Poor’s đã đánh sụt Trung Quốc từ mức ổn định xuống tiêu cực; còn cơ quan Moody thì đã đánh sụt từ tháng trước. Nhiều nhà kinh tế đã lên tiếng cảnh báo về tài chính Trung Quốc, nêu ra nguy cơ khủng hoảng trong trung hạn.
Hiện nay nợ nần của Trung Quốc tăng nhanh hơn tăng trưởng kinh tế: nợ đã tăng gấp bốn trong vòng bảy năm qua. Vẫn có thể chịu đựng được nếu tăng trưởng vượt 10% mỗi năm, nhưng năm 2015 tăng trưởng của Trung Quốc chỉ còn có 6,9% – thấp nhất từ 25 năm qua. Một số nhà kinh tế muốn giảm nhẹ nỗi lo, nêu ra vấn đề dự trữ ngoại hối và tỉ lệ tiết kiệm cao trong dân, cũng như chủ nợ đa số là người trong nước.
Nhưng chuyên gia Vincent Chan của Crédit Suisse cho biết: “Tôi rất lo lắng cho nền kinh tế Trung Quốc về trung hạn và dài hạn, không thấy được lối thoát”. Trước mắt, tài chính Trung Quốc còn khá vững chắc với 3.210 tỉ đôla dự trữ. Nhưng số tiền này đã bị hao hụt mất 800 tỉ đô la từ năm 2014 do cố cứu đồng nhân dân tệ.
Nhiều nhà phân tích khác cũng tỏ ra quan ngại. Khi quyết định đánh sụt hạng tín nhiệm, Standard & Poor’s nhận xét: “Nhịp độ và chiều sâu của việc cải tổ các doanh nghiệp nhà nước có lẽ không đủ để làm giảm rủi ro của sự tăng trưởng nhờ vay mượn”. Còn ông Vincent Chan nhấn mạnh: “Tổng nợ của Trung Quốc sẽ đạt đến mức 300% GDP trước năm 2020. Kinh nghiệm cho thấy tăng trưởng kinh tế sẽ ngừng lại, một khi tỉ lệ nợ nần đạt đến mức cao như thế”.
Như đánh giá của chuyên gia kinh tế Obsfeld, sự hụt hơi của mô hình Trung Quốc tác động trực tiếp đến “tăng trưởng và mức đầu tư của thế giới, đến các hoạt động thương mại của toàn cầu”. Những quốc gia bị ảnh hưởng nghiêm trọng nhất là các nền kinh tế đang trỗi dậy và các nước xuất khẩu dầu mỏ, đã quá tin tưởng vào một khách hàng lớn như Trung Quốc.