Hình ảnh nói lên: Sự kiện Tội Ác Việt Cộng ! ! !






http://1.bp.blogspot.com/-H2UASSKYcOk/UJml_6fpwuI/AAAAAAAA0Q8/ThhrjwncSGc/s1600/babui-danlambao-%C4%90a%CC%82%CC%81t+nu%CC%9Bo%CC%9B%CC%81c+la%CC%80+ca%CC%81i+%C4%91uo%CC%82i+sam1.jpg








Monday, January 6, 2014

Bắt đầu chạy nước rút quyền lực?'


Bắt đầu chạy nước rút quyền lực?'
Cập nhật: 13:18 GMT - chủ nhật, 5 tháng 1, 2014
Facebook
Twitter
Google+
chia sẻ
Gửi cho bạn bè
Media Player
Mở bằng chương trình nghe nhìn khác

Thông điệp của Thủ tướng VN có những điểm độc lập với cơ chế lãnh đạo tập thể, theo nhà quan sát.
Đang diễn ra một cuộc 'chạy đua nước rút' giành quyền lực hướng tới Đại hội Đảng Cộng sản Việt Nam năm 2016, thể hiện qua bản thông điệp chính trị đầu năm của Thủ tướng Việt Nam ông Nguyễn Tấn Dũng, theo một nhà phân tích từ trong nước.
Tiến sỹ Phạm Chí Dũng nói với BBC hôm thứ Năm, 02/1/2013:
"Dường như theo cảm nhận của tôi, từ đầu năm 2014 trở đi bắt đầu một cuộc chạy đua nước rút, chuẩn bị cho Đại hội 12 của Đảng Cộng sản năm 2016, và đó là cuộc chạy đua của không chỉ một người, mà là một số người.
"Và mỗi người đều có chính kiến, quan điểm, phương pháp, con đường riêng của mình. Thành thử là có một sự độc lập tương đối, không nhất thiết bất kỳ vấn đề gì cũng phải đưa ra bàn trong tập thể, mặc dù thông điệp nêu ra, cơ sở của thông điệp là Nghị quyết Đảng."
'Dấu hiệu cải cách'
"Chẳng hạn sẽ cho ban hành các luật về lập hội, luật về biểu tình và đồng thời cũng xác định một vấn đề cực kỳ quan trọng đối với cải cách kinh tế đó là vấn đề xóa độc quyền, ở đây không chỉ bàn về vấn đề giảm độc quyền mà cần thiết phải xóa độc quyền"
TS Phạm Chí Dũng
Vẫn theo nhà quan sát này, đã xuất hiện một số chỉ dấu qua thông điệp của Thủ tướng Việt Nam cho thấy Việt Nam sẽ nới rộng một số quyền của công dân và nhân quyền trong bối cảnh tiếp tục đàm phán để có thể gia nhập Hiệp định Đối tác Kinh tế xuyên Thái Bình Dương (TPP) trong năm 2014.
Những cải cách này có thể trải rộng từ 'xóa độc quyền' ở khu vực kinh tế nhà nước, làm cho Việt Nam tiến gần hơn tới một 'nền kinh tế thị trường' đích thực, cho tới ban hành một số đạo luật cho phép 'lập hội, biểu tình' v.v...
"Thông điệp này ghi nhận ít nhất về một số khái niệm mới trong đó có những cụm từ về dân chủ, và có liên quan một số vấn đề cụ thể mà trong thời gian vừa rồi đã có dư luận nhưng chưa thành hình.
"Chẳng hạn sẽ cho ban hành các luật về lập hội, luật về biểu tình và đồng thời cũng xác định một vấn đề cực kỳ quan trọng đối với cải cách kinh tế đó là vấn đề xóa độc quyền, ở đây không chỉ bàn về vấn đề giảm độc quyền mà cần thiết phải xóa độc quyền."
Tuy nhiên nhà phân tích lưu ý về việc giám sát quá trình nói và làm với những cam kết mà người đứng đầu Chính phủ Việt Nam mới đưa ra, kèm với cảnh báo đối với Thủ tướng và cộng sự:
"Nếu Thủ tướng và Chính phủ không thể chỉ đạo sát sườn, giải quyết được những vấn đề quyền con người của người dân, thì thông điệp của ông sẽ trở thành vô nghĩa và mục đích tạo ra sự ảnh hưởng đối với dân chúng trong các tầng lớp trí thức của ông sẽ không đạt được trong những tháng năm tới," Tiến sỹ Phạm Chí Dũng nói.


'Hy vọng Thủ tướng nói đi đôi với làm'
Cập nhật: 14:37 GMT - thứ bảy, 4 tháng 1, 2014
Facebook
Twitter
Google+
chia sẻ
Gửi cho bạn bè
Media Player
Mở bằng chương trình nghe nhìn khác

Bà Phạm Chi Lan cho rằng thông điệp đặt ra nhiều vấn đề cơ bản, then chốt về đổi mới, phát triển đất nước
Một cựu quan chức lãnh đạo của Phòng Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) bày tỏ hy vọng Thủ tướng Việt Nam Nguyễn Tấn Dũng và Chính phủ của ông sẽ có trách nhiệm với những gì đã cam kết trong bản thông điệp hứa hẹn 'đổi mới' đầu năm 2014.
Trao đổi với BBC hôm 02/1/2013, bà Phạm Chi Lan, nguyên Phó Chủ tịch, Tổng thư ký VCCI cho rằng bản thông điệp thể hiện sự 'nhận thức' của Thủ tướng và Chính phủ trước những vấn đề căn bản, cốt lõi, toàn diện của phát triển và đổi mới đất nước.
Bà cũng cho rằng cách thức 'đưa vấn đề' của Thủ tướng cũng có những điểm 'mới' so với các năm trước như 'cụ thể, mạch lạc' và 'khả thi' hơn.
Tuy nhiên nhà quan sát vẫn đặt vấn đề về khâu đảm bảo tổ chức thực hiện các nội dung được hứa hẹn và nhấn mạnh về 'trách nhiệm giải trình' với những cam kết đã đưa ra.
'Trách nhiệm giải trình'
"Tất nhiên câu chuyện chính bây giờ vẫn là việc thực hiện, và việc thực hiện không chỉ tùy thuộc ở Thủ tướng mà còn tùy thuộc ở cả bộ máy của ông ấy trong chính phủ cũng như ở chính quyền các địa phương."
Bà Phạm Chi Lan
Bà nói: "Tất nhiên câu chuyện chính bây giờ vẫn là việc thực hiện, và việc thực hiện không chỉ tùy thuộc ở Thủ tướng mà còn tùy thuộc ở cả bộ máy của ông ấy trong chính phủ cũng như ở chính quyền các địa phương."
Bản thông điệp của Thủ tướng Dũng được loan hôm 01/1, theo cựu thành viên Ban cố vấn thời Thủ tướng Phan Văn Khải, không chỉ hạn chế ở kêu gọi đổi mới, cải tổ nói chung về kinh tế, xã hội mà còn mở rộng sang nhiều vấn đề khác cụ thể hơn như phát huy dân chủ, cải cách thể chế, trong đó có những vấn đề liên quan xã hội dân sự và nhân quyền.
"Tôi cho rằng để biến những điều mà Thủ tướng đưa ra trong thông điệp thành thực tế thì nó sẽ đòi hỏi phải thực thi rất mạnh,
"Ở đây tất cả những ngành liên quan, tất cả các kênh giám sát của xã hội, hay của bản thân chính phủ, bản thân nhà nước, trong giám sát lẫn nhau cũng phải tăng cường lên," bà Phạm Chi Lan lưu ý.



'Cần theo dõi hành động hậu diễn văn'
Cập nhật: 14:00 GMT - thứ sáu, 3 tháng 1, 2014
Facebook
Twitter
Google+
chia sẻ
Gửi cho bạn bè
Media Player
Mở bằng chương trình nghe nhìn khác
Việc Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng được lựa chọn trong cơ chế lãnh đạo tập thể để đưa ra thông điệp đầu năm có thể là chỉ dấu cho thấy ông Dũng đang có thể mong muốn cải tổ hình ảnh bản thân, 'tạo dấu ấn cá nhân' cho các bước đi trong tương lai của ông.
Trao đổi với BBC hôm 02/1/2013 từ Hà Nội, Tiến sỹ Nguyễn Quang A, nguyên Viện trưởng Viện IDS nói ông tin rằng Thủ tướng Dũng có vi trí tốt hơn so với phần còn lại của bộ tứ lãnh đạo ở Việt Nam, khi đưa ra thông điệp đầu năm.
"Chắc chắn nó (bản thông điệp) phải có một ý nghĩa và người đưa ra thông điệp cũng muốn giành một ưu thế gì đấy cho bản thân mình với thông điệp của mình.
"Bởi vì nếu thông điệp mang một dấu ấn cá nhân rất mạnh mẽ để có sự ủng hộ của công luận, cái đấy, tôi nghĩ, nguyên thủ quốc gia nào cũng đều có ý định như vậy," ông Nguyễn Quang A nói.
Tiến sỹ cũng nhấn mạnh rằng, người dân phải dõi theo hành động của các lãnh đạo, "trong ba tháng, sáu tháng sau" người ta có làm được như những gì đã nói hay không.


Nêu dân chủ 'đúng lúc và kịp thời'
Cập nhật: 12:55 GMT - thứ năm, 2 tháng 1, 2014
Facebook
Twitter
Google+
chia sẻ
Gửi cho bạn bè
Media Player
Mở bằng chương trình nghe nhìn khác
Trả lời câu hỏi của BBC ngày 2/1 về việc liệu có nên đặt dân chủ chung với Chủ nghĩa xã hội như trong thông điệp đầu năm của Thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng hay không, Giáo sư Tương Lai nói:
"Bây giờ đòi hỏi thông điệp của ông ấy phải bỏ luôn xã hội chủ nghĩa thì tôi chắc rằng ông ấy không thể tồn tại trên ghế thủ tướng được."
"Nhưng khi ông ấy nói rằng xã hội chủ nghĩa mà chúng ta xây dựng phải là xã hội gắn với dân chủ và Đảng phải nắm lấy ngọn cờ dân chủ thì tôi thấy nói như vậy, trong bối cảnh hiện nay, thì có thể chấp nhận được."
"... Đó là nội dung mà chúng ta mong muốn, còn đặt tên cho nó là gì thì có thể tính sau. Cái tôi cần, là nội dung cốt lõi của nó, chứ đừng mượn ngôn từ bịp bợm để lừa dối nhân dân."
Bình luận về lý do vì sao ông Dũng lại chọn thời điểm này để nhấn mạnh về vấn đề dân chủ, giáo sư Tương Lai cho rằng "muốn được lòng dân, muốn nhân dân tán thành với mình, không có gì hơn là bây giờ phải nói lên sự thật."
"Tôi thấy đã đến lúc đem vấn đề dân chủ gắn liền với chủ nghĩa yêu nước. Đó là nội dung bức xúc nhất mà người dân Việt nam mong muốn. Ai nói được điều này, là đáp ứng được lòng mong mỏi của dân," ông nói.
"Cho nên việc nêu vấn đề dân chủ lúc này là rất đúng lúc và kịp thời."
"Người nào làm được điều đó, sẽ nhận được sự ủng hộ của dân, dù là x,y,z hay a,b,c cũng không quan trọng."


Dân chủ kiểu cộng sản

Biếm họa Pho (Danlambao)


Vấn đề sở hữu đất tại Việt Nam và cưỡng chiếm đất trong một nước độc đảng
Diễn Đàn Việt Nam 21
Land Ownership in Vietnam and Land Seizure in One-party State
Vũ Quốc Ngữ  (5e Forum Mondial des Droits de l’Homme)
Trần Huê chuyển dịch
03/01/2014 – Trong thời gian qua đã có liên tục nhiều tin tức về việc dân oan mất đất biểu tình ở Hà  Nội, ở Sài Gòn đòi công lý, đòi ruộng đất (Diễn Đàn Việt Nam 21 đã loan tin trong mục Nhân quyền). Đây là một trong những vấn đề nhức nhối của nước Việt Nam đầu thế kỷ 21, một vấn đề lẽ ra không còn được phép tồn tại, nhưng ai quan tâm đến thời sự luôn bắt gặp hình ảnh những đoàn dân oan kéo nhau đi đòi quyền lợi bị đánh cắp.
Đảng CS độc quyền cai trị bỏ mặc cho nông dân bị cướp đất, đẩy họ ra đường sống chết mặc bây, đất nông dân bị chiếm rồi quy hoạch thành khu kinh tế này, khu du lịch nọ, dự án nhà ở cao cấp kia, và cả những cánh đồng golf để các quan chức đại gia đi đánh golf trước khi đi tắm bùn v.v. …
Theo thời gian Việt Nam càng ngày càng có rất nhiều quan chức và đại gia tỷ phú với dinh thự nguy nga mà người dân liệt họ vào các “nhóm lợi ích” trong khi con số dân oan mất đất nguời cày mất ruộng không giảm mà tăng. Các “phòng tiếp dân” cũng được dựng lên nhan nhản như một sân khấu bi hài kịch, nơi dân oan chỉ được tụ tập kêu gào khiếu nại chốc lát ở ngoài cửa, còn quan chức vẫn tiếp tục bưng mắt! Chính vì thế mà “Tâm lý thù ghét người giàu và giới quan chức cai trị ngày càng ăn sâu vào não trạng của lớp nông dân mất đất, bị nghèo hóa và bị đẩy vào cảnh bần cùng” như nhà bỏ đảng Phạm Chí Dũng nhận định.
Dưới đây, chúng tôi xin giới thiệu bản dịch tiếng Việt bài của Vũ Quốc Ngữ (Hà Nội) trình bày những sự kiện tiêu biểu về tình trạng cưỡng chiếm đất đai ở Việt Nam ngày nay, nguyên bản Anh ngữ là bài tham luận tại Diễn đàn Nhân quyền Thế giới kỳ 5 (*) tại Pháp vào tháng 5/2013. Hình ảnh do DĐVN21 thêm vào mà trong nguyên bản không có.

Diễn Đàn Việt Nam 21
 —-
Nhà của tôi cũng là lâu đài của tôi. Tại các nước chấp nhận và tôn trọng nền pháp trị thì bất kể người đó là nhân viên chính quyền hay không, nếu ai làm chủ một bất động sản, người đó có quyền làm chủ và trọn quyền tùy tiện sử dụng mảnh đất đó cho bất cứ một mục đích nào.
Tuy nhiên, ở Việt Nam tình trạng hoàn toàn khác hẳn. Trong một nước cộng sản tất cả đất đai đều thuộc về nhà nước, và người dân chỉ được thuê sử dụng có hạn kỳ để canh tác ở cấp hộ. Khi kế hoạch của một quan chức cho khu đất đó thay đổi thì yêu cầu của người công dân về quyền sử dụng mảnh đất ấy có thể trở thành vô nghĩa trong khoảnh khắc.
Sở hữu đất đai ở Việt Nam
Việt Nam trở thành quốc gia độc lập vào năm 1945 sau khi nhân dân nổi dậy chống lại sự chiếm đóng hai tròng của Pháp-Nhật. Là một quốc gia mới thành lập VN phải lao vào trận chiến chống Pháp để giành độc lập, cuộc chiến kết liễu năm 1954 với sự chia đôi đất nước. Miền Bắc dưới sự cai trị của cộng sản có Trung quốc hậu thuẫn trong khi miền Nam theo chế độ cộng hòa và theo Tây phương.
Ðất nước được thống nhất năm 1975 sau khi cộng sản ở miền Bắc dưới sự hổ trợ kinh tế và quân sự của Liên xô và Trung quốc đánh chiếm Việt Nam Cộng Hòa được Hoa Kỳ và các nước đồng minh viện trợ.
Trở về năm 1946, Việt Nam tổ chức tổng tuyển cử đầu tiên và bầu ra một quốc hội đa đảng. Vài tháng sau đó, quốc hội cho ra đời bản hiến pháp đầu tiên của đất nước mà trong đó không đề cập gì đến vấn đề sở hữu đất đai.
Sau khi nắm quyền ở miền Bắc, người cộng sản dựng lên nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa và đưa ra một hiến pháp mới gọi là Hiến Pháp 1960 khẳng định tất cả đất vô chủ đều thuộc về nhà nước.
Từ khi thống nhất năm 1975 Việt Nam đã thay đổi hiến pháp hai lần. Bản Hiến Pháp 1980 và bản Hiến Pháp sửa đổi năm 1992 thay đổi sâu rộng quyền sở hữu ruộng đất – trao tất cả đất đai ở Việt Nam vào tay nhà nước và chỉ cho nhân dân quyền sử dụng đất.
Trong bản dự thảo hiến pháp đang thảo luận và dự kiến thông qua vào cuối năm 2013 chính quyền cộng sản cố giữ nguyên quyền sở hữu đất đai như hiến pháp 1992 đã quy định.
Theo luật đất đai hiện nay chính quyền có thể chiếm thu đất để dùng cho các mục tiêu quốc phòng và an ninh quốc gia cũng như để phát triển kinh tế xã hội. Ðiều này cho phép nhà cầm quyền ở nhiều tỉnh và thành phố đuổi dân ra khỏi đất họ đang canh tác hoặc ở và giao khu đất đươc giải tỏa cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước để thực hiện các dự án gọi là phát triển ở địa phương.
Tịch thu đất ở Việt Nam ngày nay
Chiến dịch cưỡng chiếm đất lớn nhất xảy ra trong những năm 1954-56 sau khi CSVN nắm chính quyền ở Miền Bắc và thành lập nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa.
Cộng sản VN thực hiện chính sách cải cách ruộng đất để khuyến khích người nghèo ủng hộ chế độ xã hội chủ nghĩa của họ và chuẩn bị cuộc xâm chiếm miền Nam. Duới sự giám thị của cố vấn Trung quốc CSVN đã mở một chiến dịch đấu tố tàn bạo, tịch thu ruộng đất của địa chủ để phân chia cho dân làng nghèo. Nhiều phú hào bị buộc tội đã bóc lột nông dân trong làng và làm Việt gian cho Pháp. Hằng chục ngàn người bị kết án và xử tử trong khi những người khác bị đánh đập tàn bạo. Tất cả tài sản của họ, kể cả ruộng đất, bị tịch thu và giao cho nông dân qua các vụ xử án dàn dựng bởi cán bộ nhà nước chưa từng đươc đào tạo gì về các cơ cấu pháp luật. Trong các vụ đấu tố, nhiều địa chủ từng làm ăn chăm chỉ đã bị thân nhân họ vu cáo với sự xúi dục của người CS, để được đền bù bằng một vài thưởng vật nhỏ như mấy thửa đất nhỏ hoăc dụng cụ trong nhà.
Sau đó CS Bắc Việt thừa nhận sai lầm và ngưng chính sách cải cách điền địa cũng như có biện pháp sửa sai. Tuy nhiên, nhiều đia chủ Việt Nam đã không tìm được sự công bằng cho cái chết của họ. Chỉ một số ít bị kết án nhẹ.
Trong những năm 1960 và 70 ở miền Bắc Việt Nam và ở cả miền Nam sau khi CS chiếm miền Nam thống nhất đất nước, VN thành lập các hợp tác xã nông nghiệp và buộc tất cả nông dân phải giao ruộng đất của mình cho vào hợp tác xã nhà nước. Nông dân chỉ đươc giữ một phần nhỏ đất của họ (5%) để canh tác riêng , tự trồng lúa và rau cải.
Mô hình canh tác theo hợp tác xã đã chứng tỏ không có hiệu năng, đưa đến tình trang thiếu thực phẩm trầm trọng và phải lệ thuộc vào viện trợ thực phẩm của nhiều nước, nhất là từ các nước trong khối xã hội chủ nghĩa thuộc Liên xô và từ các nước Ðông Âu trước đây.
Ðến những năm giữa thập niên 1980, CSVN nhận thấy mô hình canh tác hợp tác xã không kết quả nên bỏ đi và phân chia đất cho từng nông dân. Nhưng đất đai vẫn thuộc về nhà nước trong khi nông dân chỉ được quyền canh tác trong một thời gian nhất định (tối đa đến 30 năm).
Việc chiếm hữu đất đai bởi cấp dưới của nhà nước địa phương ở các tỉnh và thành phố bắt đầu xảy ra sau năm 1986 khi VN thi hành chính sách gọi là „Ðổi mới“. Trong tiến trình thành thị hóa và kỹ nghệ hóa đã có nhu cầu lớn về đất đai để thực hiện các dự án kỹ nghệ, bất động sản và giải trí ở các địa phương. Kể từ đó, chính quyền địa phương ở khắp nơi đã chiếm lấy nhiều khu đất canh tác lớn của nông dân cho các nhà đầu tư trong và ngoài nước để thực hiện các dự án.
Việc chiếm đất đã xảy ra từ Nam ra Trung , ngoài Bắc kể cả tại thủ đô Hà Nội.
Ðể chiếm đất chính quyền địa phương bắt ép nông dân phải giao đất cho họ với giá thật thấp so với giá thị trường và giá bán đất (thật ra quyền xử dụng đất) cho những nhà buôn bán bất động sản thì cao hơn rất nhiều. Lẽ dĩ nhiên, phần lớn lợi nhuận chạy vào túi của các quan chức tham nhũng chứ không vào công quỹ ở địa phương.
Trong vài truờng hợp, nông dân bị cưỡng bách bán đất với giá thật rẻ cho đồ án phát triển thật sự. Sau đó họ phải trả giá gấp trăm lần cao hơn cho một căn hộ được xây ngay trên chính đất của họ trước đây.
Khi chính quyền địa phương thấy chuyện chiếm và bán đất của nông dân cho các nhà khai thác là nguồn lợi thì những nông dân này không có cách gì để từ chối, ngay cả trong trường hợp mảnh đất đó đã là nhà ở qua nhiều đời, nơi đó có mồ mả ông cha và là nguồn sống của họ. Bởi vì trong một nhà nước độc đảng, giới lãnh đạo địa phương nắm cả ba quyền – hành pháp, lập pháp và tư pháp.
Chiếm đất của giáo xứ Cồn Dầu ở trung tâm thành phố Ðà Nẳng
Giáo xứ Cồn Dầu thuộc phường Hoà Xuân, quận Cẩm Lệ đã có 135 năm lịch sử, những người dân cư ngụ ở đó là giáo dân Công giáo.
Năm 2010, Ủy ban Nhân dân ở Ðà Nẵng quyết định lấy 440 mẫu đất thuộc giáo xứ Cồn Dầu để làm trung tâm du lịch sinh thái Hòa Xuân. Nhiều ngôi nhà của giáo xứ Cồn Dầu và nghĩa trang địa phương nằm trong khu vực dành cho dự án trung tâm nghỉ mát này.
Bất kể sự phản đối mạnh mẽ của những dân cư trong giáo xứ, chính quyền địa phương bắt phải giải tỏa nghĩa trang đi nơi khác cũng như ra lệnh nhiều ngườì dân ở đó phải dọn ra khỏi khu vực của dự án.
Tiền bồi thường đất bị chiếm chỉ bằng một phần 30 của giá một biệt thự trong khu vực nghỉ mát.
 Dân chúng Cồn Dầu không muốn giải tán nghĩa trang của họ. Ngày 4 tháng 5 năm 2010 công an cấm không cho dân địa phương an táng bà Maria Ðặng thị Tân tại nghĩa trang của xứ đạo. Một cuộc xô sát giữa nhân viên cảnh sát và dân chúng Cồn Dầu đã xảy ra. Sau sự cố này, cảnh sát đã bắt giữ hằng chục người dân Cồn Dầu, buộc tội họ đã có hành động chống lại chính quyền địa phương. 6 người ở Cồn Dầu bị giam giữ trong khi một số người khác bị tra tấn trong thời gian bị bắt giữ.
Sau đám táng bà Tân một người của ban trợ tang ở Cồn Dầu đã bị đánh đến chết.Trên 70 người dân Cồn Dầu đã chạy sang Thái Lan xin tị nạn, 14 người trong số người này được phép sang định cư ở Hoa Kỳ.
Những người đã dọn đi chỗ khác được chính quyền địa phương bồi thường một số tiền nhỏ không đủ để mua đất và vật dụng cất nhà nơi chỗ mới.
Mới đây, chính quyền thành phố Ðà Nẳng thông báo sẽ cho dời tất cả mồ mả khỏi nghĩa trang Cồn Dầu vào ngày 10 tháng 4.
Một trường hợp chiếm đất khác xảy ra ở Ðà nẳng đã khiến cho một người dân địa phương tự thiêu để phản đối chính quyền của thành phố. Vào ngày 17.02.2011, kỹ sư Phạm Thanh Sơn 31 tuổi tẩm xăng tự thiêu trước một tòa nhà hành chánh địa phương. Không ai can thiệp và ông Sơn đã tử nạn. Ông này đã phải chịu một quyết định bất công của thành phố Ðà Nẳng vì họ đã chiếm đất của ông ấy mà không đền bù tương xứng. Trước khi tự thiêu ông Sơn đã gửi nhiều đơn khiếu nại đến các cơ quan của thành phố, phản đối việc chiếm đất của ông.
Sự cố này bị bỏ quên sau đó vì giới truyền thông tại chỗ bị địa phương kiểm soát chặt chẽ và trình bày vụ tự thiêu như một tai nạn. Các thân nhân của gia đình ông Sơn đã bị canh chừng một thời gian dài sau khi ông Sơn được an táng.
Chiếm đất dân thiểu số ở cao nguyên miền Trung và miền núi phía bắc
Việt Nam có 54 nhóm sắc tộc. Người Kinh hay Việt chiếm trên 95 % của tổng số 90 triệu dân. Phần lớn các dân sắc tộc sống ở các vùng núi miền bắc và trung VN.
Bằng cách làm ăn có lợi kinh tế và xã hội, nhiều người Kinh, đặc biệt là giới cán bộ đã chiếm đất đai của người sắc tộc, lấy mất phương tiện cơ bản để sản xuất thực phẩm của họ. Mất đất sống người sắc tộc còn bị người Kinh hiếp đáp, nhiều dân sắc tộc ở cao nguyên miền Trung (1985) và người Hmong ở phía Tây-Bắc của tỉnh Ðiện Biên (2011) đã phản kháng chính quyền ở địa phương. Tuy nhiên, sự chống đối của ho bị lực lượng cảnh sát đặc biệt đàn áp thô bạo. Họ được võ trang nặng nề, trong một vài truờng hơp có cả chiến xa và phi cơ trực thăng.
Cưỡng chế đất ở phía Bắc cảng Hải Phòng
Tháng giêng năm 2012, sau nhiều lần khiếu kiện và đệ trình lên các cơ quan trọng tài để bảo vệ quyền của mình nhung không thấy có trả lời, nông dân Ðoàn Văn Vươn phối hợp một vụ chống đối bằng võ lực. Ông đặt bom tự chế trên khoảnh đất rộng 40,3 mẫu tây ở quận Tiên Lãng thuộc thành phố Hải Phòng. Ông tiến hành biện pháp này để nhằm đẩy lùi 100 công an và quân đội do chính quyền địa phương gửi tới xâm nhập vào khu đất của ông và đẩy ông và gia đình ông ra khỏi khu đất nói trên.
Tốt nghiệp ngành kỹ sư, khi đến Cống Rọc, ông Vuơn được phép thuê một mảnh đất nhỏ ở nơi đó. Về sau, ông ta mở rộng nông trại của ông và biến một vùng đất bỏ hoang thành các ao nuôi tôm và nuôi cá.
Vươn bắt đầu đấp bờ đê, các hệ thống điều hòa mực nước và ao hồ cần thiết để nuôi cá và tôm. Không ai nghĩ Vươn và gia đình ông sẽ thành công. Nhưng sau nhiều năm nổ lực và thí nghiệm nông trại nuôi cá trở nên có mang lời. Những người đi tiên phong khác cũng bắt chườc ông Vươn. Năm 2004, có chừng 20 gia đình ở Tiên Lãng phát triển ngành làm trại nuôi cá có diện tích chừng 250 mẫu tây đất bỏ hoang vô giá trị trước đây. Vươn còn khai thác thêm 11 mẫu tây mặt biển, nâng cao tổng số diện tích ao hồ thuộc công ty gia đình ông lên 40 mẫu tây tất cả.
Năm 1997, ông được chính quyền quận Tiên Lãng cho phép sử dụng đất trong 14 năm.
Vài năm sau đó, VN có chương trình xây phi trường quốc tế ở Tiên Lãng để thay thế phi trường Nội Bài. Phi trường nầy chiếm một diện tích rộng lớn bao gồm cả nông trại nuôi cá của ông Vươn và các nông dân láng giềng. Chính quyền địa phương muốn thu hồi giấy phép canh tác của ông Vươn cũng như của những người cùng cảnh ngộ để lấy bồi thường cao của nhà nuớc khi bắt đầu thực hiện xây phi trường quốc tế.
Năm 2005, những người nuôi cá nhận hung tin từ chính quyền sở tại, theo đó đất đang thuê sẽ bị thu hồi khi hết hạn. Hơn thế nữa, các tân trang và cải tiến thêm trong thời gian qua sẽ không được đền bù.
Như đã nói ở trên, toàn thể đất đai ở CHXHCNVN thuộc về nhà nước. Tuy nhiên, kể từ 1993 cá nhân và công ty được cho quyền sử dụng đất. Cho đa số nông dân, có nghĩa là họ được phân chia một mảnh đất thuộc đất của hơp tác xã.để canh tác trong 20 năm.
Vì lý do gì cũng chưa rõ, Vươn chỉ được thuê đất 14 năm kể từ năm 1993. Ông được lịnh phải dọn đi vào năm 2007.
Vươn và các nông dân nuôi cá nói rằng theo thói thường ở nhà quê họ vẫn tin là đất họ thuê và canh tác cho tốt hơn sẽ được tự đông gia hạn. Hơn thế nữa, cũng như tất cả nông dân VN đều mong đợi khi chính quyền thu hồi đất để sử dụng cho mục đích công cộng thì nông dân phải được đền bồi thỏa đáng công lao của họ đã làm tốt hơn lên.
Hiểu như vậy nên những nông dân nuôi cá đã chống đối sau khi đòi hỏi của họ không dược giải quyết. Chính quyền quận sở tại vẫn không nhúc nhích. Tòa án quận vẫn giữ nguyên lệnh phải dọn đi. Các nông dân nuôi cá kháng kiện lên tòa án cao hơn của Hải Phòng.
Phán quyết của tòa được đồng ý, chính quyền sở tại và Vươn đã ký kết ngay trong toà án. Theo thỏa thuận này,  Vươn rút lại đơn tố cáo và chính quyền sở tại sẽ tiếp tục cho thuê sở đất đang tranh cãi. Ngay sau khi đơn cáo kiện được rút đi, chính quyền địa phương đã tiến hành đuổi Vươn khỏi mảnh đất của mình mà không có bồi thường nào.
Ngày 5 tháng giêng 2012 nhà cầm quyền địa phương ở Tiên Lãng đã cho hằng trăm cảnh sát đặc biệt và đơn vị thuộc quân đội tới đuổi Vươn và gia đình ra khỏi đất của Vươn. Các nhân viên gặp sự kháng cự quyết liệt, kết quả là 4 cảnh sát và hai quân nhân bị thương tích phải được điều trị ở bệnh viện.
Vươn và người em bị bắt giam vì tội dùng võ khí chống lại cán bộ nhà nước. Nhà của ông bị chính quyền đập phá vài ngày sau đó, trong khi cá trong ao bị bọn côn đồ vớt đi hết dưới sự đồng tình của nhà nước ở địa phương.
Cách thức nhà nước Hải Phòng xử lý Vươn phản ảnh sự thiếu tôn trọng và khinh thường ra mặt những người nông dân địa phương cũng như tài sản của họ. Nhà cầm quyền CS ở địa phương coi thường sự tranh đấu kiên trì của Vươn để giữ đất của mình mà Vươn đã canh tác thành công như vậy. Thay vì xem cơ sở nuôi cá của Vươn như một tấm gương của sự làm việc chăm chỉ cần cù có thể đem lại cho cộng đồng, nhà cầm quyền VN lại xem nông trại của Vươn là một cách để kiếm nhiều tiền, có triển vọng cho „các dự án phát triển mới“.
Mặc dù thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng tuyên bố lệnh xua đuổi chiếm đất là một hành động bất hợp pháp, Vươn và em ông đã bị giam giữ từ tháng giêng 2012 và bị giam cho đến khi ra tòa ngày 4-5 tháng 4 năm 2013. Mặc dù không làm điều gì trái đạo đức và luật pháp ngoài việc tự vệ cho chính mình, cả hai đã bị kết án 5 năm tù về tội cố sát và chống lại lực lượng thi hành công vụ.
Chiếm đất ở Văn Giang tỉnh Hưng Yên để làm dự án đô thị sinh thái Ecopark
Năm 2004 chính quyền tỉnh Hưng yên phía bắc cấp giấy phép cho một công ty tư để phát triển dự án đô thị sinh thái Ecopark gồm 20000 đơn vị nằm trên 500 mẫu tây ở Xuân Quan, quận Văn Giang, nằm chừng khoảng 30 cây số cách thủ đô Hà Nội.
Ðể lấy chỗ cho dự án Ecopark 3900 gia đình nông dân, cư dân của tất cả 3 làng được thuyết phục nên rời bỏ đất đai mầu mỡ của họ và dọn đi nơi nào khác.
Chỗ đất dành cho dự án bị tịch thu qua 2 đợt năm 2009 và 2012, nhưng chừng 2000 hộ từ chối không chịu nhận tiền bồi thường của chính phủ cho 5,8 mẫu tây, nói rằng số tiền này quá thấp so với giá trị ở thị trường lúc đó.
 Nông dân tổ chức các vụ phản kháng nhiều lần ở Hà Nội, đòi bồi thường cao hơn cho đất đai của họ hoặc là bãi bỏ dự án trên.
Ngày 24 tháng 4 năm 2012 chính quyền tỉnh Hưng Yên đã cho 3 ngàn cảnh sát có võ trang tới xua đuổi dân làng Xuân Quan khỏi đất của họ. Lực lượng cảnh sát dùng lựu đạn cay tấn công dân làng, đánh đập nhiều người trọng thương và bắt giữ hàng chục người. Trong số những người bị bắt có cả hai phóng viên của đài Tiếng nói VN đến tường thuật việc đuổi đất theo chiều hướng có lợi cho nhà cầm quyền địa phương.
Theo nguồn tin không chính thức, Nguyễn Thanh Phương, con gái của nguyên thủ tướng Nguyễn Tấn Dũng là người có cổ phần trong đồ án Ecopark.
Chiếm đất ở quận Hà Ðông thuộc Hà Nội: xã Dương Nội ở quận Hà Ðông
Năm 2010 thành phố Hà Nội quyết định phát triển vùng thành phố mới Lê Trọng Tấn và thành phố phải đuổi 337 gia đình khỏi miếng đất rộng 21,5 mẫu tây. Có 155 gia đình đồng ý dọn đi, trong khi 182 gia đình khác từ chối bỏ đất vườn của họ, nói rằng giá mà họ nhận được của chủ thầu thấp hơn giá thị trường rất nhiều.
Ðể dọn trống khu đất cho dự án xây dựng, chính quyền quận Hà Ðông đã cho dẹp nghĩa trang, dời mồ mả ra ngoài  phạm vi dự trù xây khu phố thị mới. Tức giận trước hành động của nhà nước địa phương dân làng Dương Nội đã gửi nhiều thư phản kháng đến các cơ quan trách nhiệm đòi phải can thiệp và ngưng việc lấy đất.
Nhiều người đã túc trực hẳn trên ruộng đất của họ, thay phiên nhau canh gác để ngăn chận chính quyền tịch thu đất đai của họ.
Ngày 17 tháng giêng 2013, chính quyền quận Hà Ðông cho 200 cảnh sát, dân phòng và côn đồ tấn công làng, muốn dùng võ lực đuổi dân làng phải bỏ đất của họ. Tuy nhiên, lực lượng cảnh sát đã gặp sự chống đối mãnh liệt của dân làng và cuối cùng họ buộc phải rút lui. Trường hợp này phải nên chấm dứt.
Chiếm đất ở Ðồng bằng Cửu Long tỉnh Cần Thơ: Bà mẹ và cô con gái cởi áo quần phản đối
Ðể xây cất khu gia cư mới Hưng Phú, chính quyền quận Cái Răng vùng châu thổ sông Cửu Long thuộc thành phố Cần Thơ quyết định lấy đất của dân làng Hưng Phú để bán cho công ty CP đầu tư xây dựng số 8 có tên là CIC 8. Tuy nhiên, công ty CIC8 chỉ chịu trả cho khu đất lấy đi với giá quá thấp, cả 10 lần ít hơn giá của căn hộ nhà sẽ được xây cất.
 Dưới áp lực của chính quyền nhiều dân cư ở đó đã giao đất cho hãng xây cất, nhưng một số người khác trong đó có bà Pham Thị Lài đã không chịu chuyển nhượng đất của họ với giá rẻ.
Từ năm 2002 gia đình bà Phạm Thị Lài đã gửi đơn kháng kiện đến chính quyền các cấp khác nhau để phản đối quyết định của nhà cầm quyền Cái Răng lấy 3000 thước vuông của gia đình họ với giá rẻ mạt. Tuy nhiên, bà Phạm Thị Lài đã không nhận hồi đáp nào của nhà nước.
Bà Lài và cô con gái đã cởi áo quần phản đối khi phe khai thác gửi nguời đến giải tỏa khu đất. Tuy nhiên, bảo vệ của công ty CP đầu tư xây dựng số 8 đã lôi hai người đàn bà khỏa thân đi khỏi đất của họ.
Sau đó, chính quyền Cái Răng phạt bà Lài và con gái bà về tội khỏa thân nơi công cộng và như thế đã vi phạm thuần phong mỹ tục.
Chiếm tài sản của giáo hội Thiên chúa giáo
Nhiều nhà thờ Công Giáo là nạn nhân bị chiếm tài sản bởi các cơ quan chính quyền và cán bộ. Cùng với sự can thiệp chính trị ảnh hưởng đến các sinh hoạt tôn giáo của người Công Giáo khắp nước, nhà cầm quyền ở nhiều tỉnh và thành phố đã thu tóm tài sản của giáo hội, gây sự bất mãn trong hàng giáo sĩ và giáo dân.
Trong quá khứ, chính quyền địa phương ở nhiều nơi đã mượn bất động sản và cơ sở của giáo hội Thiên chúa giáo và các cơ sở này thành công sở, bệnh viện, trường học, khách sạn hoặc biến thành nơi giải trí cho người không Công giáo.
Tại thủ đô Hà Nội nhà cầm quyền đã lấy 95 cơ sở giáo hội Thiên chúa giáo. Họ đã cho cảnh sát đàn áp các vụ phản kháng của tu sĩ và giáo dân thiên chúa giáo.
Chính quyền ở Hà Nội còn muốn lấy đất của giáo xứ Thái Hà để xây nhà cho nhân viên địa phương. Dưới sự chống đối quyết liệt của các tu sĩ và giáo dân nhà cầm quyền phải chuyển qua lấy mảnh đất đó làm công viên.
Thống kê về tranh chấp đất đai ở Việt Nam
Chỉ riêng Hà Nội đã có trên 1000 vụ kháng kiện liên hệ đến tranh chấp đất đai mỗi năm. Những trường hợp này cho thấy rõ sự bất mãn của người dân về các quyết định lấy đất của dân, vấn đề bồi thường và định cư trở lại khi chính quyền chiếm đất của người dân địa phương.
Trên bình diện quốc gia, con số các vụ kháng kiện liên quan đến vấn đề đất đai chiếm đến 70% các vụ kiện tụng về dân sự. Theo sở thanh tra của chính phủ, có tất cả 851000 vụ kiện cáo về tranh chấp đất đai trong thời gian từ 2003 đến 2010, phần lớn liên quan đến vấn đề lấy đất để phát trển kinh tế.
Trong số 31000 vụ kiện về đất đai tường trình trong năm 2007, một cơ quan chính quyền nói có khoảng 70% đã không có sự bồi thường tương xứng cho đất bị tịch thu.
Trong thời gian từ 2001 đến 2006, khoảng 376000 mẫu tây đất trồng lúa đã bị tịch thu, trên 1 triệu nông dân phải dời đi nơi khác. Các tu chỉnh về luật đất đai năm 2003 nhằm đẩy mạnh „phát triển“ bằng cách tạo dễ dàng cho việc khai khẩn nhiều khu đất rộng lớn cho thấy mức độ xua đuổi nông dân đi nơi khác có vẻ đã gia tăng.
Theo ông Huỳnh Phong Tranh, Tổng Thanh tra Chính phủ, vấn đề kiện cáo đất đai chiếm hết 80% tổng số các vụ tham nhũng nghiêm trọng còn chưa giải quyết.
Ông Lê Ðăng Doanh, một chuyên viên về kinh tế, lập luận rằng nay ban lãnh đạo đã đi lạc hướng và bị trói buột bởi quyền lợi phe nhóm. „Ðảng lấy đất của nông dân với giá rẻ vô lý và bán lại cho các nhà đầu tư với giá cao hơn nhiều, thay vì lấy đất của địa chủ cho nông dân như trước đây“.
Thế giới văn minh có thể làm gì để khuyến cáo chính phủ Việt Nam về vấn đề chiếm đất
Vấn đề chiếm đất đai đã trở thành hệ thống nơi mà Ðảng CSVN nắm độc quyền về quyền lực. Không có quyền sở hữu đất riêng, người dân địa phương thom thóp lo sợ mất quyền sử dụng đất một khi nhân viên chính quyền quyết định rằng, đất họ đang canh tác có thể sử dụng vào mục tiêu phát triển quốc gia hoặc an ninh công cộng.
Lấy chiêu bài „phát triển xã hội cho ích lợi chung“, chính quyền địa phương đã không do dự cưỡng chiếm đất của dân và giao đất đó cho các nhà doanh nghiệp thực hiện các dự án phát triển. Ðiều này có nghĩa là, nhân dân càng chần chờ không chịu giao đất của họ, thì việc sử dụng các lực lượng võ trang xua đuổi dân càng thô bạo hơn. Thật là kỳ quái, nếu một ai hô hào cho quyền sở hữu đất đai có thể bị phạt nghiêm khắc.
Nhiều chuyên viên cho rằng để ngăn ngừa việc chiếm đất, Việt Nam cần thay đổi luật đất đai bằng cách để tạo ra nhiều hình thức sở hữu đất gồm cả sở hữu nhà nước và sở hữu tư nhân.
Việt Nam cần phải cải tổ luật đất đai đầy mâu thuẫn nếu muốn cứu vãn nền kinh tế ốm yếu, theo lời ông Trần Huy Huỳnh, giám đốc phòng luật pháp thuộc Phòng Thương mại và Kỹ nghệ Việt Nam..
Ông nói, „Nếu quyền sở hữu thuộc về nhà nước thì nông dân không cảm thấy yên ổn bởi vì họ không là chủ của mảnh đất đó, họ sẽ không muốn đầu tư và làm việc tận lực“.
Với tình trạng đất đai bấp bênh này nông dân không thể phát triển công việc làm ăn của họ, mở rộng ra hoặc đầu tư vào các kỹ thuật cao cấp và vì thế sản phẩm của họ không có khả năng cạnh tranh“.
Ông James Anderson, một chuyên gia hành chánh của Văn phòng Quỹ tiền tệ quốc tế ở VN cho rằng, tình trạng hiện nay thường đưa đến một kết quả thua-thua cho nông dân và cả nhà đầu tư.
„Thay vì tạo điều kiện cho sự thương lượng tự nguyện, nhà nước có vai trò đặc biệt trong vấn đề định con số bồi thường và có uy quyền dùng luật lệ để phân phối lại đất đó. Lẽ tất nhiên, sự kiện nầy có thể dẫn đến nhiều khó khăn cho cả đôi bên, người mất đất không vui với khoản bồi thường và kẻ đầu tư thì phải đương đầu với những sự chậm trễ vì mất thời gian giải tỏa để có chỗ đất trống“, ông Anderson giải thích như vậy.
Các chuyên viên trong ngành nói, chính phủ và nhà cầm quyền địa phương không nên được có quyền cưỡng chiếm đất để tiến hành các dự án phát triển kinh tế xã hội. Ðể có chỗ cho các dự án phát triển kinh tế xã hội, chính quyền địa phương cần thương lượng với người dân có đất ở trong khu vực dự trù và đi đến thỏa thuận bồi thường theo giá của thị trường.
Việt Nam nên từ bỏ chính sách định giá đất cứng nhắt, cho phép thẩm giá nhà đất tùy theo giá của thị trường. Hiện nay, các chính quyền ở tỉnh định giá đất theo tình hình địa phương của họ, một cách thức không cho phép có sự bồi thường thỏa đáng, phản ảnh đúng giá cả trên thị trường và tất nhiên gây sự lỗ lã lớn cho người dân bị đuổi đất trong khi chỉ làm lợi cho cơ quan chính quyền và công ty thực hiện dự án.
Tuy vậy, tranh chấp đất đai ở VN trên căn bản bắt nguồn từ lý do chính trị hơn là từ nguyên do kinh tế – Sự thực không chối cãi là Ðảng CSVN không có ý định từ bỏ chủ trương kiểm soát toàn diện về mọi mặt trong đời sống kể cả vấn đề làm chủ tất cả đất đai. Tuy nhiên, các vụ tranh chấp đất đai đang nổi lên khắp nơi có thể tạo thành một mối đe dọa nghiêm trọng cho chính ÐCSVN, bởi vì cho đến nay nông dân vẫn là thành phần chính yếu ủng hộ đảng. Vì vậy, để giải quyết rốt ráo vấn đề đất đai ở VN, có thể ÐCSVN phải thực sự nới lỏng gọng kìm chính trị.
Pháp quốc và Việt Nam đã đồng ý hợp tác song phương, nhằm nâng cấp mối quan hệ hỗ tương, tiến đến sự hợp tác chiến lược trong tương lai gần đây. Pháp quốc cũng như các quốc gia trong Liên Minh Âu châu nên khuyến cáo chính quyền CSVN nên tôn trọng nhân quyền và quyền tự do ngôn luận.
Cả hai quốc gia cũng mong muốn đẩy mạnh sự hợp tác song phương về phuơng diện luật và hành pháp. Xuyên qua các chương trình hổ trợ, Pháp quốc nên khuyến cáo chính quyền VN, nhất là ÐCSVN, nên có cải cách về hướng của một nền pháp trị, có tự do thông tin báo chí, và đi đến sự phân quyền rõ rệt. Trong đó lập pháp, hành pháp và tư pháp hoạt động độc lập theo thể thức kiểm soát và cân bằng quyền lực.
Cuộc phản kháng của nhà nông Vươn là một thí dụ tiêu biểu cho ta thấy và cảnh báo điều gì có thể xảy ra trong một nước không có một hệ thống xã hội dân chủ và một nền pháp trị.
Những người dân bị thua thiệt nhận thấy toà án CS ít khi có hữu ích gì cho họ, và sự phản kháng ngoài đường phố đã đưa đến sự hà hiếp người dân, tra tấn hoặc cầm tù bởi nhà cầm quyền.
Theo Freedom House quốc tế, ở VN số luật sư không nhiều, và nhiều người nấy thì không muốn bào chữa cho những vụ liên hệ đến nhân quyền hoặc các vấn đế có tính chính trị nhạy cảm khác vì sợ sẽ bị trù đập, trừng phạt kể cả việc ngang nhiên bị bắt giữ của chính quyền.
Không như toà án tại các nước tiền tiến, ngành tư pháp không mang lại nhiều che chở cho người dân Việt Nam.

Tài liệu trích dẫn:
1. Land grabs rile Vietnam´s farmer- Nguyen Phuong Linh Financial Times Apr 11,2013
2. Reports of Vietnam government´s General Inspectorate
________________________________________

(*) Nguyên bản “Land Ownership in Vietnam and Land Seizure in One-party State”, bài tham luận tại 5e Forum Mondial des Droits de l’Homme, Nante, France 22.- 25 Mai 2013 trong Hội luận „Luật pháp và vấn đề chiếm đất tại các nước đang phát triển“ ngày 23/05/2013, Tiểu đề „Luật pháp và vấn đề chiếm đất tại các nước đang phát triển: thí dụ ở các nước Benin, Mali, Papua New Guinea, Vietnam và Costa Rica“. Bản tiếng Việt https://sites.google.com/site/forumvietnam21/tiengviet/tiengviet-bv/bnq20140103_vuquocngu
[Xem nguyên bản tiếng Anh]

MIẾN ĐIỆN -
Bài đăng : Chủ nhật 05 Tháng Giêng 2014 - Sửa đổi lần cuối Chủ nhật 05 Tháng Giêng 2014

Miến Điện : Hàng nghìn người biểu tình đòi hủy bỏ các luật trấn áp
 
Phong trào Thế hệ 88 biểu tình tại Rangoon ngày 5/01/2014.
REUTERS
Trọng Thành
Hôm nay, 05/01/2014, theo AFP, hàng nghìn người Miến Điện biểu tình tại Rangoon để đòi chính quyền hủy bỏ các điều luật đàn áp và chấm dứt các vụ bắt bớ liên quan đến chính trị.
Người biểu tình tập hợp khoảng hai giờ trước trụ sở tòa thị chính thành phố Rangoon, hô vang các khẩu hiệu : « tự do ! » và « trả lại cho người dân đầy đủ các quyền căn bản ! ».
Có mặt trong cuộc biểu tình, ông Pyone Cho, một nhà tranh đấu thuộc nhóm « Thế hệ 88 », tuyên bố không chấp nhận chính quyền có thêm « bất cứ vụ bắt bớ mới nào nhắm vào những người hoạt động chính trị ». Thế hệ 88 là lực lượng đứng ra tổ chức cuộc biểu tình hôm nay.
Tuần rồi, vào đúng ngày cuối năm, chính quyền Miến Điện tuyên bố đã thực hiện lời hứa thả hết tù nhân chính trị trước ngày 31/12, bằng một lệnh ân xá mới. Tuy nhiên, giới bảo vệ nhân quyền tỏ ra ngờ vực trước tuyên bố này. Các tổ chức nhân quyền lo ngại chính quyền có thể bắt bớ thêm những tù nhân chính trị mới, dựa trên các điều luật mang tính trấn áp hiện hành, đặc biệt liên quan đến các cuộc biểu tình mà chính quyền coi là « bất hợp pháp » hay các bắt bớ liên quan đến việc thu hồi đất đai.
Những người biểu tình cũng kêu gọi sửa đổi Hiến pháp 2008, vốn dành một phần tư số ghế cho giới quân sự và cản trở lãnh đạo đối lập Aung San Suu Kyi ứng cử Tổng thống, vì có con mang quốc tịch Anh. Tổng thống Thein Sein, trong tuần vừa rồi, cũng thông báo ủng hộ việc sửa đổi Hiến pháp. Một Ủy ban Quốc hội bắt đầu họp bàn về cải tổ Hiến pháp cách đây vài tháng. Ủy ban này sẽ ra báo cáo kết luận từ đây đến cuối tháng Giêng.

TRANG CHÍNH | THỜI SỰ
Bao nhiêu Hiệp hội nữa sẽ được lập ra?
Mặc Lâm, biên tập viên RFA
2014-01-03





In trang này
Chia sẻ
Ý kiến của Bạn
Email
maclam01032014.mp3  

Dân oan Hưng yên biểu tình đòi đất ở Hà Nội hôm 27/4/2011.
AFP




Mới đây có thông cáo vận động thành lập “Hiệp hội Dân oan” và bà Lê Hiền Đức được đề nghị làm chủ tịch danh dự. Sự sắp xuất hiện của một Hiệp hội Dân oan nhờ thế đã nảy lên một câu hỏi khác: liệu rồi đây một Hiệp hội khác mang tên “Hiệp hội chống tra tấn và giết người của công an” có thể sẽ thành hình hay không?
Tình trạng cưỡng chế đất đai nhưng không đền bù thỏa đáng cho người dân từ trước tới nay đã âm ỉ và tích tụ lại ngày một lớn trên khắp nước. Cảnh tượng hàng trăm người tập trung tại mỗi kỳ họp Quốc hội, ăn ở tại vườn hoa dân oan Mai Xuân Thưởng hay kéo nhau về đường Võ Thị Sáu thành phố HCM nơi có văn phòng đại diện chính phủ, vẫn thường xuyên xảy ra cho thấy sự bất bình đang đến độ căm phẫn của nạn nhân mất đất đã trở thành mạn tính.
Từ dân oan…
Cho đến nay không ai có thể thống kê chính xác có bao nhiêu gia đình chịu cảnh mất đất và theo đuổi việc khiếu kiện đến độ gia đình ly tán tài sản tiên tan là bao nhiêu. Những người dân ấy cố bám vào một niềm hy vọng tuy ngày một mong manh hơn là được nhà nước quan tâm giải quyết nguyện vọng của họ. Nhưng năm này qua năm khác hy vọng ấy không còn nữa và có lẽ phát xuất từ yếu tố tuyệt vọng này, hàng trăm dân oan đã tự ý tham gia vào một hiệp hội rất có ý nghĩa cho tiến trình tranh đấu đòi lại công lý của họ. Hiệp hội Dân oan là nơi tập trung những con người yếu đuối cô đơn ấy thành một sức mạnh cụ thể, sức mạnh của nhiều người cùng hoàn cảnh cùng tiếng nói và nhất là cùng đau khổ như nhau.
Bà Lê Hiền Đức, một người thân thiết với hầu hết dân oan khắp nước đã trở thành chủ tịch danh dự của Hiệp hội Dân oan cho biết mục đích của Hiệp hội:
“Trên tinh thần Hiệp hội Dân oan đưa ra tôi thấy nhất trí cái nội dung là bây giờ cùng nhau đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau, lên tiếng đấu tranh giữ lấy quyền sống, bảo vệ đất đai và quyền con người của mình.”
…đến dân oán
Trên tinh thần Hiệp hội Dân oan đưa ra tôi thấy nhất trí cái nội dung là bây giờ cùng nhau đoàn kết giúp đỡ lẫn nhau, lên tiếng đấu tranh giữ lấy quyền sống, bảo vệ đất đai và quyền con người của mình.
-Bà Lê Hiền Đức
Hiệp hội Dân oan tuy chưa chính thức hoạt động nhưng người quan tâm đến vấn đề tin rằng nó sẽ làm sự tranh đấu của những con người yếu thế này thay đổi. Thứ nhất nó được người đồng cảnh tin tưởng và gửi gấm hy vọng của họ vào nó. Thứ hai sự thờ ơ của xã hội sẽ được đánh động và đồng thời trực tiếp cho chính quyền biết rằng sự im lặng từ trước tới nay đã đến lúc cần phải rũ bỏ. Thứ ba, phong trào này sẽ kéo theo hàng loạt hiệp hội khác ra đời chẳng hạn người nông dân sẽ có hiệp hội bảo vệ giá lúa, giá cà phê hay các loại nông sản khác. Tài xế sẽ có hiệp hội chống mãi lộ, người bất đồng chính kiến sẽ có hiệp hội chống côn đồ, hay cụ thể nhất là “Hiệp hội chống tra tấn và giết người của công an”.
Không khác gì người dân oan bị mất đất, gia đình của các nạn nhân bị công an tra tấn và giết chết còn bi thảm hơn. Mất đất còn có thể hy vọng được nhà nước cứu xét nhưng một khi người thân đã chết thì sự cứu xét nào làm cho họ sống lại được?
Đền bù không thỏa đáng thì được nhà nước biện minh là theo giá thị trường có thỏa thuận giữa hai bên. Khi một công dân bị chết trong đồn công an thì mười vụ như một, lý do đưa ra là do chính nạn nhân tự tử.
Cũng giống như dân oan khiếu kiện, khó mà kiểm chứng được có bao nhiêu người đã bị công an tra tấn, đánh hay bắn chết trong đồn hay ngoài đời. Ngoài những vụ được đưa lên mặt báo đa số đều im lặng vì sợ bị trả thù, bị trù dập bởi tấm gương tranh đấu của hầu hết gia đình nạn nhân đều rơi vào im lặng và thua thiệt.
Trường hợp của gia đình anh Nguyễn Công Nhựt  là một thí dụ. Vào ngày 25 tháng 4 năm 2011 chị Nguyễn Thị Thanh Tuyền vợ anh Nhựt, nhận được tin chồng bị giữ tại nhà tạm giữ Công an Huyện Bến Cát. Đến ngày hôm sau, công an tuyên bố anh Nhựt treo cổ tự tử trong nhà giam. Sau nhiều tháng khiếu kiện với những chứng cứ mạnh mẽ, chị Tuyền nhận được quyết định của tòa án là chồng chị tự tử chứ không do tra tấn đến chết bởi công an.

Cô Trịnh Kim Tiến với tấm ảnh người cha là ông Trịnh Xuân Tùng bị công an đánh chết. AFP
Khi được hỏi nếu một hiệp hội có mục đích chống tra tấn và giết người của công an được thành hình thì chị nghĩ có nên không, chị Tuyền cho biết:
“Nếu thành lập được một cái hội như vậy thì là một ý hay ví khi có một cái hội như thế thì người dân oan ức họ sẽ đến để tìm sự chia sẻ với nhau giữa những người dân đang gặp oan ức mà nhà nước không giải quyết cho họ vì vậy ý tưởng này hoàn toàn hợp lý đối với xã hội hiện nay.
Nếu xã hội hiện nay mà nó có sự công bằng, có pháp luật nghiêm minh vá mọi cách đều rõ ràng thì tôi nghĩ không cần cái hội này nhưng rõ ràng bây giờ tại đất nước Việt Nam thì sự bức xúc càng ngày càng nhiều và không có ai đứng ra giải quyết cho dân cả.
Bản thân tôi rất là đồng lòng và sẽ ủng hộ nếu thành lập một cái hiệp hội như vậy.”
Ông Nguyễn Quang Phục có con là anh Nguyễn Quốc Bảo, ngày 21 tháng 1 năm 2010  bị công an tra tấn đến chết tại trại tạm giam của công an quận Hai Bà Trưng, Hà Nội vì tình nghi có tàng trữ ma túy tuy không có bất cứ bằng chứng gì về sự phạm tội của anh.
Ông Phục cho biết ý kiến của mình về một hiệp hội có mục đích tranh đấu cho những nạn nhân chết do tra tấn của công an, ông nói:
“Thế thì tôi nhất trí ngay. Có một vài gia đình như nhà thằng Hùng ở Hà Đông ông ấy là đảng viên nên ông ấy sợ không dám chống đối, kiện cáo việc con ông ấy bị chết. Mà nếu như bây giờ thành lập được cái hội ấy mà mình đi đấu tranh để bảo đảm cái quyền thân thể của người dân (không bị xâm phạm) thì tôi nghĩ rằng không những đấu tranh cho mình mà còn đấu tranh cho những người về sau này nữa.
Nếu bây giờ thành lập được một cái hiệp hội như vậy thì tốt vì mình bảo vệ được cái quyền tự do của con người. Mình không nói là đấu tranh để bảo vệ lấy cái quyền lợi riêng cho gia đình, nhà mình mà cùng với quyền lợi của cộng đồng nữa thì nó tốt hơn và làm được như thế nào đó thì mình còn phải tính toán.”
Những vụ án công an đánh chết người thì không chỉ ở từng vùng miền mà nó rải rác từ bắc vào nam nên rất khó để mà tập hợp tất cả những nạn nhân và gia đình người bị hại lại.
-Chị Trịnh Kim Tiến
Một trường hợp công an đánh người đến chết rất nổi tiếng khác là trường hợp của ông Trịnh Xuân Tùng do đi xe máy không đội mũ bảo hiểm đã bị công an bắt dẫn về trụ sở công an phường Thịnh Liệt, quận Hoàng Mai. Ông Tùng bị tra tấn tê liệt toàn thân. Và chết sau một tuần nằm viện.
Chị Trịnh Kim Tiến con của ông Tùng cho biết ý kiến về hiệp hội này:
“Việc lập ra một hiệp hội của người dân có người thân bị đánh chết là một điều nên làm. Những vụ án công an đánh chết người thì không chỉ ở từng vùng miền mà nó rải rác từ bắc vào nam nên rất khó để mà tập hợp tất cả những nạn nhân và gia đình người bị hại lại. Bên cạnh đó thân nhân của người bị hại không phải ai cũng dấu tranh đòi lại công bằng cho người thân của mình. Nhiêu gia đình không có điều kiện  cũng như họ không có sự hiều biết về luật pháp để mà tranh đấu.
Một số người khác thì bị đe dọa, áp bức và do đó chấp nhận sự oan ức của người thân mình do đó rất là khó để kết hợp mọi người lại với nhau để lập nên một cái hội như thế. Tuy nhiên tôi nghĩ ràng cái việc đấy chắc chắn là phải làm và nên làm.”
Hiệp hội: sức mạnh của xã hội dân sự
Tầm vóc của xã hội dân sự lớn mạnh từ những hiệp hội như thế. Tại các nước phát triển các loại hiệp hội nhằm tương trợ giữa những người cùng nghề nghiệp, sở thích hay lý tưởng tôn giáo là điều bình thường tuy nhiên chưa thấy một hiệp hội nào nhằm tự bảo vệ quyền lợi chính đáng của người dân như Hiệp hội Dân oan, hay Hiệp hội “chống tra tấn và giết người của công an” bởi lẽ những oan khuất nếu có của người dân phải được chính quyền bảo vệ.
Dù sao thì người dân tự bảo vệ mình qua hình thức một hiệp hội vẫn tích cực hơn là hành động lấy bạo lực chống lại bạo lực. Đây là thế mạnh của một xã hội dân sự và phải chăng do đó mà nhà nước luôn thành kiến với nó?

Oan khúc Người tù Kiên Giang ( 01 )
https://www.youtube.com/watch?feature=player_embedded&v=5WODijpotAM

Oan khúc Người tù Kiên Giang ( 02 )
https://www.youtube.com/watch?feature=player_embedded&v=4H_omqeQBiM


28/11/2013
HÌNH ẢNH NHỮNG NGƯỜI DÂN PHẢN ĐỐI CHẾ ĐỘ ĐẤT ĐAI THUỘC SỞ HỮU TOÀN DÂN
Thái Văn Dậu
Thay mặt 32 hộ nông dân khu liên hợp Bình Dương
Đây là những người dân bị cưỡng chế lấy đất làm khu liên hợp công nghiệp dịch vụ đô thị Bình Dương.
Không có điều kiện ra Hà Nội để gặp Quốc hội, xin gởi những hình ảnh biểu tình tại chỗ cho QH xem trước khi thông qua Hiến pháp và luật đất đai sửa đổi.

                   
T.V.D.
Tác giả gửi trực tiếp cho BVN
http://boxitvn.blogspot.de/2013/11/hinh-anh-nhung-nguoi-dan-phan-oi-che-o.html

No comments:

Post a Comment

Cám ơn bạn đã đọc và cho Ý kiến.

Featured Post

Bản Tin buổi sáng22/4/2024

My Blog List